|
|
|
Cuộc vận động chủ nghĩa cộng sản mà ồn ào hơn một thế kỷ chỉ mang lại cho nhân loại chiến tranh, nghèo khổ, đẫm máu và chuyên chế. Với sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và các Đảng Cộng Sản Đông Âu, vở kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng đă bước sang màn chót vào cuối thế kỷ vừa qua. Không một ai, từ thường dân đến Tổng bí thư Đảng, c̣n tin vào những lời ma quỷ của chủ nghĩa cộng sản nữa.
Chính quyền của Đảng cộng sản ra đời không phải “theo ư trời” (quân quyền thần thụ) [1] cũng không phải từ bầu cử dân chủ. Ngày nay, khi niềm tin tưởng triệt để vào sự sinh tồn của nó đă bị hủy diệt th́ tính hợp pháp của sự chấp chính này đang đối diện với một thử thách chưa từng có trong lịch sử.
Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă không thuận theo trào lưu lịch sử tự động thoái xuất khỏi vơ đài lịch sử. Thay vào đó, nó sử dụng những thủ đoạn lưu manh đă được h́nh thành trong nhiều thập niên qua các cuộc vận động chính trị để đổi mới sự giăy chết cuồng loạn của nó nhằm t́m kiếm tính hợp pháp và để cải tử hồi sinh cái quyền lực đang chết của nó.
Các
chính sách cải cách và cởi mở của Đảng
cộng sản Trung Quốc che đậy một ư
định tuyệt vọng là duy tŕ lợi ích tập
đoàn và chính quyền độc tài của nó. Dù rằng bị trói buộc
chặt chẽ, các thành quả kinh tế vẫn cứ đạt được
bởi nỗ lực
của nhân dân Trung Quốc trong 20 năm qua, tuy vậy vẫn không thuyết phục được ĐCSTQ buông con
dao đồ tể của nó xuống. Thay vào đó,
ĐCSTQ đă ăn cắp các thành quả này và sử dụng chúng để
chứng thực việc nắm
chính quyền của nó là
hợp pháp, làm cho các hành động lưu manh từ
trước đến nay của nó c̣n giả dối và
lầm lạc hơn. Điều đáng sợ
hơn là ĐCSTQ đang toàn
lực hủy diệt
nền tảng đạo đức của toàn
thể dân tộc, cố
gắng biến đổi mỗi một công dân Trung Quốc, trở thành các kẻ lưu manh ở mức
độ khác nhau
để tạo nên một hoàn cảnh sinh tồn “thăng tiến với
thời gian” cho ĐCSTQ.
Vào thời điểm lịch
sử hôm nay, đặc
biệt quan trọng cho
chúng ta hiểu được tường tận tại sao Đảng cộng
sản lại hành
động giống như những tên lưu manh, và cho chúng ta nhận diện cái bản tính lưu manh của nó, có như vậy
đất nước Trung Quốc mới có thể
đạt được ổn định và ḥa b́nh lâu
dài, bước vào một kỷ nguyên thoát khỏi Đảng
cộng sản càng
sớm càng tốt, và xây dựng một
tương lai huy hoàng của một đất
nước đă được hồi phục.
******************
Trong lịch sử , cứ mỗi lần Đảng cộng sản Trung
Quốc(ĐCSTQ) gặp phải nguy cơ nó sẽ biểu lộ một
số dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc người dân, h́nh thành những ảo tưởng
về ĐCSTQ. Nhưng không có ngoại lệ nào cả, các
ảo tưởng đă tan vỡ từng lần, từng lần một. Ngày nay ĐCSTQ đang theo
đuổi các lợi ích ngắn hạn nhằm tŕnh
diễn một màn kịch kinh tế thịnh vượng
để một lần nữa thuyết phục người dân tin vào các ảo tưởng
của nó. Tuy nhiên,
những xung đột cơ bản giữa lợi
ích của bản thân Đảng cộng
sản, với
lợi ích của quốc
gia dân tộc đă quyết định rằng
sự thịnh vượng giả dối này sẽ không
kéo dài lâu nữa. “Sự cải cách” mà ĐCSTQ đă
hứa hẹn chỉ có một nguyên do: duy tŕ sự
thống trị của ĐCSTQ. Nó là một cải cách yếu
kém khập khiễng,
một thay đổi trên bề mặt chứ không
phải bản chất. Nằm bên dưới của
sự phát triển khập khiễng là đang tiềm ẩn một nguy
cơ to lớn của xă
hội. Một khi nguy cơ bùng nổ, quốc gia và dân tộc
một lần nữa sẽ gặp khổ nạn.
Với sự thay đổi lănh
tụ, thế hệ lănh
đạo mới của ĐCSTQ không có phần trong cuộc cách mạng cộng
sản thời xưa, bởi thế sẽ có ít uy tín và tín
nhiệm hơn trong
việc điều hành quốc gia. Giữa cơn nguy cơ về tính cách hợp pháp của nó, việc bảo vệ lợi ích Đảng của ĐCSTQ đă trở thành một bảo đảm căn bản ngày càng tăng nhằm
duy tŕ quyền lợi của những cá nhân trong nội
bộ ĐCSTQ. Ích
kỷ mà không kiềm chế được là bản tính của Đảng cộng
sản . Hy vọng một
Đảng như vậy mà có thể
hiến dâng chính nó để phát triển quốc
gia một cách ḥa b́nh
th́ chỉ là một mơ
tưởng hăo huyền.
Chúng ta hăy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ, đă nói ǵ trên trang đầu vào ngày 12/7/2004: “Những phương pháp biện chứng trong lịch sử đă dạy cho các thành viên của ĐCSTQ điều sau đây: Điều nên đổi th́ phải thay đổi, nếu không, suy đồi sẽ theo sau. Điều ǵ không nên đổi th́ cố giữ không đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến tự huỷ diệt.”
Cái ǵ cần phải giữ
không đổi? Tờ Nhân
Dân nhật báo giải thích như thế này: “Đường lối cơ
bản của Đảng là 'một trung tâm, và
hai điểm cơ
bản' phải kéo dài
vững chắc trong trăm năm không một dao
động”[2].
Người dân không nhất thiết phải hiểu cái
gọi là “trung tâm” và “điểm cơ bản” tượng trưng cho
cái ǵ, song mọi người đều biết rằng
cái quyết tâm của
tà linh cộng sản là duy tŕ lợi ích tập thể, và sự chuyên chế độc tài sẽ không bao
giờ thay đổi. Chủ nghĩa cộng sản
đă bị thất bại trên toàn cầu, đang bị
sụp đổ đến độ càng ngày càng suy tàn.
Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối th́ một thứ
ǵ càng thối nát lại càng có tính tàn phá. Bàn luận về cải biến dân chủ với
Đảng Cộng Sản chẳng khác ǵ yêu cầu
cọp dữ khoác bộ da mới.
Trong khi Đảng
Cộng Sản đang suy
bại, người ta bất ngờ khám phá ra rằng qua nhiều thập niên
tà linh phụ thể của Đảng
cộng sản với
những thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn
hóa đă thấm nhuần những yếu tố tà ác của nó vào trong mọi
khía cạnh đời sống của người dân.
Khi Mao Trạch Đông chết,
nhiều người đă khóc cay đắng trước
tấm h́nh của Mao, tự hỏi “Không có Mao chủ
tịch, Trung Quốc sẽ ra sao?” Mỉa mai thay, 20 năm
sau, khi Đảng Cộng Sản đă mất tính hợp
pháp để nắm chính quyền quốc gia của
nó, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă cho
lan rộng một đợt tuyên truyền mới làm người dân một lần nữa
lại tự hỏi một cách lo âu: “Nước Trung
Quốc sẽ làm được ǵ nếu không có
Đảng Cộng Sản?”
Trên thực tế, sự khống chế chính trị lan tràn khắp nơi của ĐCSTQ đă khắc sâu vào nền văn hóa hiện tại và tư tưởng người Trung Quốc đến nỗi ngay cả chuẩn mực mà người Trung Quốc đánh giá ĐCSTQ đều có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc xuất phát từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ khống chế dân chúng bằng cách truyền thấm nhuần nhuyễn những yếu tố của nó vào họ, th́ giờ đây ĐCSTQ đă đến lúc phải gặt hái những ǵ nó gieo mầm, bởi v́ những điều thấm nhuần trong tâm trí người dân đă được tiêu hóa và hấp thụ vào từng tế bào của họ. Người dân suy nghĩ dựa theo lư luận của ĐCSTQ, và tự đặt ḿnh vào vị trí của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các sinh viên biểu t́nh ngày 4/6/1989, có người bảo “Nếu tôi là Đặng Tiểu B́nh tôi cũng sẽ dập tắt cuộc nổi loạn bằng xe tăng”. Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng tiêu diệt Pháp Luân Công.” Về việc cấm tự do ngôn luận, có người bảo rằng “Nếu tôi là Đảng cộng sản tôi cũng làm như vậy.” Chân lư và lương tri không c̣n nữa, chỉ c̣n lại lô-gic của Đảng cộng sản. Đây là một trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm nhất của ĐCSTQ đă được ĐCSTQ sử dụng v́ bản tính lưu manh của nó. Khi nào những độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đă tiêm nhiễm vào vẫn c̣n trong đầu óc người ta, th́ ĐCSTQ càng có cơ hội tiếp tục thâu đoạt năng lượng để duy tŕ sinh mạng lưu manh của nó.
“Nước Trung Quốc sẽ
làm được ǵ nếu không có Đảng
Cộng Sản?” Lối suy
nghĩ này phù hợp chính xác với mục đích của
ĐCSTQ là làm cho người dân suy luận theo lô-gic của
nó.
Dân
tộc Trung Hoa đă trải qua 5000 năm
lịch sử văn minh của họ mà không có Đảng cộng
sản. Thực tế,
không một quốc gia nào trên thế giới lại ngừng tiến triển
xă hội chỉ v́ sự sụp đổ của một
chế độ nào đó. Tuy nhiên sau hàng chục thập
niên dưới sự thống trị của ĐCSTQ, người dân đă không c̣n nhận ra
được sự thực này. Sự tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ
đă rèn luyện
người dân nghĩ Đảng như là mẹ
đẻ của họ. Các đường lối chính
trị của ĐCSTQ có mặt ở khắp nơi đă
khuất phục người dân, làm cho họ
không thể nhận thức được cuộc
sống không có Đảng cộng sản sẽ ra sao.
Không có Mao Trạch Đông, Trung Quốc đă không đổ vỡ. Như vậy nếu không có Đảng cộng sản th́ nước Trung Hoa có sụp đổ chăng? !
Rất nhiều người
biết và không thích những hành vi lưu manh của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ
đấu tranh và dối trá của nó. Nhưng đồng
thời họ lại sợ hăi những cuộc vận
động chính trị của ĐCSTQ và những
bạo động gây
rối loạn, rồi sợ sự rối loạn một lần nữa
sẽ viếng thăm Trung Quốc. Bởi thế, mỗi
khi ĐCSTQ hăm dọa người dân với chữ
“rối loạn”; người dân liền lặng lẽ
chấp thuận sự thống trị của ĐCSTQ, cảm
thấy vô vọng khi đối diện với quyền
lực chuyên chế của ĐCSTQ.
Trên thực tế, với hàng
triệu quân đội và cảnh sát vơ trang, ĐCSTQ là
nguồn rối loạn thật sự. Những
người dân thường không tài nào gây nên hoặc có
khả năng khởi xướng rối loạn cho quốc
gia. Chỉ có ĐCSTQ thoái
hóa mới nhẫn tâm
mang đất nước đến rối
loạn qua bất cứ dấu hiệu thay đổi
nào. “Ổn định quan trọng hơn tất
cả mọi thứ” và “Nhổ tận gốc mầm
mống của tất cả các yếu tố nguyên nhân làm bất ổn định” — các khẩu
hiệu này đă trở thành nền móng lư luận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp người dân. Vậy ai là nguyên nhân lớn
nhất tạo ra sự bất ổn định tại Trung Quốc? Phải
chăng chính là ĐCSTQ một chính quyền chuyên dùng
bạo lực? ĐCSTQ là chủ mưu của rối
loạn, và sau đó đến lượt nó lại dùng
chính sự rối loạn nó tạo ra ấy để ép
buộc người dân. Những bọn lưu
manh xưa nay đều làm như thế cả .
********************
Đảng cộng
sản Trung Quốc(ĐCSTQ) tự nhận “tính hợp pháp”
của nó do từ
sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên
trên thực tế sự phát triển này đă dần
dần đạt được nhờ nhân dân Trung
Quốc lao động, sau khi những gông cùm của ĐCSTQ được
nới lỏng một chút, do đó sự phát triển kinh
tế không liên quan ǵ đến công lao của chính ĐCSTQ.
Dầu vậy, ĐCSTQ đă tuyên bố là sự phát
triển kinh tế này là do thành tựu của chính nó, và yêu cầu người dân
phải biết ơn Đảng, như thể là sẽ
không có một phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trong
thực tế tất cả chúng ta đều biết
rằng có nhiều quốc gia phi cộng sản, từ lâu đă thành công trong
việc tăng trưởng kinh tế, và c̣n nhanh chóng hơn.
Khi đạt được huy chương vàng
tại thế vận hội Olympic, thể tháo gia bị bắt buộc phải cám ơn
Đảng. Đảng không ngần ngại sử
dụng h́nh ảnh bày đặt “thể thao đại quốc ” để tự ca tụng.
Trung Quốc đă trải qua nhiều đau khổ trong
bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhật báo Nhân dân
đă báo cáo rằng Trung Quốc đă chiến thắng vi
khuẩn “dựa theo lư luận cơ bản, đường
lối cơ bản, nguyên tắc cơ bản và kinh nghiệm cơ
bản của Đảng”. Việc phóng vệ tinh Thần
Châu 5 của Trung Quốc đă được thực
hiện bởi các chuyên gia khoa học và kỹ thuật,
nhưng ĐCSTQ đă lấy đó làm bằng chứng
để chứng minh rằng chỉ có ĐCSTQ mới có
khả năng hướng dẫn người dân Trung
Quốc bước vào hàng các cường quốc trên thế giới. Sự việc Trung Quốc làm chủ tổ chức thế vận hội Olympic
năm 2008, là thực ra các nước Tây phương
ban cho Trung Quốc cái “cành Ô-liu” (biểu trưng của
đề nghị ḥa b́nh) để khuyến khích Trung
Quốc cải thiện t́nh h́nh nhân quyền, nhưng ĐCSTQ dùng điều này
để nâng cao những tuyên bố về tính hợp pháp
của nó, và
để dùng như một cái cớ để trấn áp
người dân Trung
Quốc. “Tiềm lực thị trường lớn mạnh” của Trung
Quốc có được nhờ vào các nhà đầu tư
ngoại quốc, bắt nguồn từ năng lực tiêu
thụ của 1.3
tỷ người dân của Trung Quốc. ĐCSTQ
đă chiếm đoạt tiềm lực này, và rồi biến nó thành vơ khí
sắc bén dùng để làm áp lực các xă hội phương Tây phải hợp
tác với sự thống trị của ĐCSTQ.
Đảng cộng sản Trung
Quốc (ĐCSTQ) qui tội tất cả
những thứ xấu vào các lực lượng
phản động và động cơ ngầm của các
cá nhân, trong khi đó nhận những ǵ tốt về cho ban
lănh đạo của Đảng. ĐCSTQ sử dụng mỗi một thành quả để
khiến cho việc tuyên
bố về tính hợp pháp của sự thống trị
của nó có sức thuyết phục hơn. Ngay cả
những việc làm sai mà ĐCSTQ phạm phải cũng
được biến thành cái ǵ đó “tốt” để
phục vụ các mục đích của nó. Ví dụ khi
sự thật về sự lan tràn khủng khiếp
của bệnh AIDS không c̣n che dấu được
nữa, ĐCSTQ bất thần chế tạo ra luận
điệu mới. Chúng khéo léo vận chuyển bộ máy
tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi
người từ minh tinh nổi tiếng đến Tổng bí thư Đảng
để tô vẽ chân dung ĐCSTQ, kẻ thủ phạm đầu
sỏ, thành người tiêu diệt bệnh AIDS,
người thách đấu với bệnh tật
của nhân loại, và như là một điều may
mắn cho bệnh nhân. Trong
việc giải quyết những vấn đề liên quan tới sống
chết nghiêm trọng như vậy, tất cả
những ǵ ĐCSTQ có thể nghĩ đến là làm
thế nào mà sử
dụng vấn đề đó để tự ca ngợi
ḿnh. Chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hành
động nhẫn tâm, lưu manh chiếm đoạt và
hoàn toàn không kể ǵ đến mạng sống con người.
Đối diện nghiêm
trọng với “nguy
cơ về tính hợp
pháp”, ĐCSTQ đă thực hiện các chính sách cải cách
và mở cửa vào thập niên 80 để duy tŕ sự thống trị của nó. Háo hức thành công nhanh chóng
đă đặt Trung Quốc vào một thế bất
lợi mà những nhà kinh tế học gọi là “tai
họa cho kẻ đến muộn”.
Những khái niệm “tai họa
cho kẻ đến muộn” hoặc là “lợi thế cho kẻ
đến muộn”, mà một số các học giả đă
gọi, là chỉ về sự kiện của các quốc gia lạc hậu, có nghĩa là sự phát triển
được khởi công muộn, có thể bắt
chước các nước tiên tiến trong nhiều
mặt. Có hai h́nh thức bắt chước: bắt
chước hệ thống xă hội và bắt
chước các mô h́nh kỹ thuật và công nghiệp. Thông
thường bắt
chước hệ thống xă hội là khó, v́ cải
tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến
quyền lợi tương lai của một số tập
đoàn chính trị hay xă
hội. V́ vậy các quốc gia lạc hậu có khuynh hướng bắt
chước kỹ thuật của các nước tiên
tiến. Mặc dầu bắt chước kỹ thuật
có thể tạo nên phát triển kinh tế nhất
thời, nhưng nó có thể dẫn đến nhiều
may rủi tiềm ẩn
hoặc ngay cả
thất bại đối với mục tiêu phát triển
dài hạn.
Đảng cộng
sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chính là đang đi theo con đường “tai họa cho kẻ
đến muộn”, một con đường thất
bại. Qua hai thập niên vừa rồi, “bắt chước kỹ
thuật” của Trung Quốc đă thật sự dẫn
đến một số thành tích, mà ĐCSTQ đă dành về
phần ḿnh, hầu để chứng minh
“tính hợp pháp” của nó, và tiếp tục ngăn cản cải cách chính trị
mà có lẽ sẽ làm hại tới lợi ích riêng của
ĐCSTQ. V́ vậy, lợi ích lâu dài của quốc gia
đă bị hy sinh.
Trong khi Đảng
Cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) không
ngừng khoe khoang về tiến bộ kinh tế của
ḿnh, th́ trên thực
tế, kinh tế Trung Quốc ngày nay sắp hạng trên thế giới c̣n
thấp hơn thời của vua Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong
thời vua Càn Long, GDP
(Gross Domestic Products hay Tổng sản lượng quốc
nội) của Trung
Quốc được coi như bằng 51% của tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập
nước Cộng ḥa Trung Quốc (thời Quốc Dân
Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc
bằng được khoảng 27% của tổng số
thế giới. Vào 1923, tỷ lệ phần trăm
giảm xuống, nhưng vẫn c̣n được 12%.
Đến 1949, khi ĐCSTQ nắm chính quyền, tỷ
lệ xuống đến 5.7%, nhưng đến 2003, GDP
của Trung Quốc giảm xuống ít hơn 4% tổng
số của thế giới. Tương phản với
sự tụt dốc kinh tế trong thời kỳ Quốc
Dân Đảng v́ phải trải qua nhiều chục
năm chiến tranh, th́ sự tụt dốc kinh
tế liên tục trong thời kỳ ĐCSTQ nắm
quyền lại xảy ra trong thời b́nh.
Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của ḿnh, ĐCSTQ hăm hở muốn đạt thành công nhanh chóng và những lợi ích tức thời. Sự cải cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ đă phát động hầu để bảo vệ lợi ích riêng tư cho chính nó, là một tổn thất lớn cho quốc gia. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng trong 20 năm qua, tới một phạm vi rộng, được xây dựng trên sự lạm dụng hoặc ngay cả lăng phí các nguồn tài nguyên, và đă đạt được với cái giá của sự tàn phá môi trường. Một phần lớn GDP của Trung Quốc đạt được bằng cách hy sinh những cơ hội của các thế hệ tương lai. Vào 2003, Trung Quốc đă đóng góp dưới 4% cho kinh tế thế giới, trong khi đó mức tiêu thụ về sắt, xi măng và những vật dụng khác lên đến 1/3 tổng số tiêu thụ toàn cầu [3].
Từ thập niên 1980
đến cuối thập niên 1990, những vùng đất
bị bỏ hoang
ở Trung Quốc tăng từ 1000 đến 2460 ki-lô mét vuông (386 đến
950 dặm vuông). Đất
trồng trọt cho mỗi đầu người cũng
giảm sút từ 2 mẫu vào 1980 đến 1,43 mẫu vào
2003[4]. Phong trào lớn
mạnh thu hồi/giải
tỏa đất đai rầm rộ để phát triển đă làm
Trung Quốc mất 100
triệu mẫu đất để trồng trọt trong
ṿng chỉ vài năm. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ
đất thu hồi được đem sử dụng
chỉ là 43%. Hiện thời, tổng số lượng
nước phế thải là 43,95 triệu tấn,
vượt quá 82% dung
lượng của môi
trường Trong bảy hệ thống sông ng̣i chính, 40,9%
lượng nước
không thích hợp để dùng cho người và súc vật uống. 75% mương
hồ bị ô nhiễm nên đă sinh ra các mức độ nuôi dưỡng rong rêu, chất
bẩn trong nước
khác nhau[5]. Chưa bao giờ sự xung
đột giữa người và sự Tự Nhiên tại
Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay. Trung
Quốc hay thế giới không tài nào cưỡng lại
sự phát triển không lành mạnh như vậy.
Bị che mắt bởi hào nhoáng bề mặt của các
cao ốc và biệt thự, người dân không biết đến sự khủng
hoảng sinh thái đang treo lơ lửng. Tuy nhiên, hễ đến lúc luật tự nhiên trừng phạt
nhân loại, nó sẽ mang đến những hậu
quả thảm khốc cho nước Trung Hoa.
So sánh với nước
Nga từ sau khi rũ
bỏ chủ nghiă cộng sản, đă thực hiện cải cách kinh
tế và chính trị cùng một lúc. Sau khi trải qua
một khoảng thời gian khó khăn ngắn, Nga bắt
đầu phát triển nhanh chóng. Từ 1999 đến 2003,
GDP của Nga đă tăng tổng số được
29,9%. Mức sống người dân cũng được
cải thiện đáng kể. Giới thương mại
Tây phương đă không những bắt đầu bàn luận
“hiện tượng kinh tế Nga”, mà c̣n bắt
đầu đầu tư vào Nga —một thị
trường nóng
hổi mới— trên phạm
vi rộng. Thứ hạng của Nga trong các quốc gia
hấp dẫn nhất để đầu tư, đă nhảy từ vị trí
thứ 17 vào năm
2002 đến vị trí thứ 8 trong năm 2003, lần đầu tiên
trở thành một trong 10 nước hấp dẫn
nhất trên thế giới để đầu tư.
Ngay cả Ấn độ,
một quốc gia mà
trong tư tưởng của hầu hết người
dân Trung Quốc là nghèo nàn và đầy những xung
đột sắc tộc, đă hưởng được sự phát triển
vượt bực và
đạt được thành tựu phát triển kinh
tế với tỷ lệ là 7- 8% hằng năm từ khi
cải cách kinh tế vào năm 1991. Ấn Độ có
hệ thống pháp luật khá đầy đủ về
kinh tế thị trường, một hệ thống tài
chính dồi dào, một hệ thống dân chủ phát
triển tốt, tâm thái người dân ổn định. Quốc
gia này đă được
cộng đồng quốc tế công nhận là một
nước có tiềm lực phát triển lớn.
Tương phản lại,
ĐCSTQ, chỉ tham gia vào cải cách kinh tế mà không có
cải cách chính trị. Bộ mặt kinh tế giả
tạo nở rộ nhất thời đă cản trở
“sự phát triển các hệ thống xă hội” tự
nhiên. Chính sự cải cách không đầy đủ này
đă gia tăng sự mất cân bằng trong xă hội
Trung Quốc và làm các mâu thuẫn xă hội càng thêm sâu
sắc. Những lợi nhuận tài chính mà người dân đạt được
không được các hệ thống xă hội ổn
định bảo vệ. Hơn thế nữa, trong quá
tŕnh tư hữu hóa các tài sản quốc gia, những kẻ nắm
quyền hành trong ĐCSTQ đă lợi dụng quyền
thế để nhét đầy vào túi riêng của ḿnh.
Đảng cộng
sản Trung Quốc(ĐCSTQ) dựa vào nông dân để
đoạt quyền lực. Những người nông dân trong các vùng Đảng
thống trị, đă
cống hiến tất cả những ǵ họ sở
hữu cho ĐCSTQ từ lúc nó mới phôi thai. Nhưng sau
khi ĐCSTQ nắm quyền lực quốc gia, những
người nông dân đă phải trải qua sự phân biệt đối xử trầm
trọng.
Sau khi ĐCSTQ thành lập chính
quyền, nó đă sắp xếp một hệ thống vô
cùng bất công: đó là hệ thống đăng kư cư
trú. Hệ thống này ép buộc chia người dân thành
2 loại: nông dân và dân thành
thị, tạo ra một sự chia rẽ vô lư và chống
đối trong nội bộ quốc gia. Nông dân không có bảo hiểm sức
khỏe, không có tiền trợ cấp thất nghiệp,
không có tiền hưu trí và không được vay tiền
ngân hàng. Người nông dân không những thuộc giai cấp bần cùng
nhất tại Trung Quốc, mà cũng là giai cấp bị đánh thuế nặng
nhất. Nông dân cần phải trả tiền cho quỹ
tiết kiệm bắt buộc, quỹ trợ
cấp xă hội, quỹ
quản lư hành chánh, lệ phí giáo dục bổ xung, lệ
phí kiểm soát sinh đẻ, lệ phí tổ chức và
huấn luyện quân đội, lệ phí xây
đường quốc gia và lệ phí bồi
thường quân sự. Bên cạnh tất cả lệ phí
này, họ c̣n phải bán một phần thóc lúa mà họ đă
sản xuất theo một tỷ lệ cố định
cho nhà nước như là một yêu cầu bắt
buộc, và phải trả thuế nông nghiệp, thuế
đất, thuế sản xuất vùng đặc biệt,
thuế giết mổ và c̣n thêm vào nhiều thuế khác.
Ngược lại dân cư thành thị không phải
trả thuế và những lệ phí này.
Vào đầu năm 2004,
Thủ tướng Ôn Gia Bảo đă phát hành “hồ sơ
số 1” nói rằng nông thôn Trung Quốc đang đối
diện với t́nh thế khó khăn nhất từ khi
bắt đầu cải
cách kinh tế vào năm 1978. Lợi tức của hầu hết nông dân đă không tăng hoặc ngay
cả c̣n xuống dốc.
Họ càng nghèo hơn, và sự cách biệt lợi tức
giữa dân nông thôn và dân thành thị tiếp tục nới
rộng ra.
Trong một lâm trường
ở phía đông tỉnh Tứ Xuyên, nhà chức trách
cấp trên đă chi ra 500 ngàn đồng Yuan
(khoảng 60.500 đô la Mỹ) cho một chương tŕnh
trồng lại
rừng. Những người lănh đạo lâm
trường trước hết bỏ túi 200 ngàn đồng Yuan, rồi mới phân phối 300
ngàn đồng Yuan c̣n lại để trồng
rừng. Nhưng mỗi khi qua mỗi một cấp
quản lư, số tiền lại bị mất
dần, cuối cùng chỉ
c̣n lại một ít dành cho những nông dân trong vùng,
những người mà thật sự trồng
rừng. Chính quyền không cần phải lo lắng
rằng những người nông dân sẽ từ chối
làm việc v́ ngân khoản không đủ. Những nông dân này quá nghèo đến
nỗi họ phải làm việc với tiền công rất
ít. Đây là một
trong những lư do mà sản phẩm sản xuất
tại Trung Quốc “made in China” lại rất rẻ.
Nhiều người
tưởng rằng buôn bán với Trung Quốc sẽ thúc
đẩy nhân quyền, tự do ngôn luận và cải cách
dân chủ cho Trung Quốc. Sau hơn một thập niên, chứng
minh rằng điều này chỉ là mơ
tưởng. Một so sánh về nguyên tắc làm
thương mại ở Trung Quốc và các nước Tây
phương cho ta một ví dụ điển h́nh: sự trong suốt công b́nh của Tây phương
được thay thế bởi những quan hệ riêng
cá nhân, hối lộ và
biển thủ ở Trung Quốc. Nhiều công ty Tây
phương đă trở thành thủ phạm hàng
đầu v́ đă làm trầm trọng thêm sự thối
nát của Trung Quốc. Một số công ty ngay cả c̣n giúp ĐCSTQ dấu diếm
những vi phạm nhân quyền và đàn áp chính
người dân của nó.
Đảng cộng
sản Trung Quốc(ĐCSTQ) hành động như Mafia bằng cách chơi ván bài
kinh tế trong chính sách đối ngoại. Hợp
đồng chế tạo máy bay của Trung Quốc sẽ
được giao cho Pháp hay Mỹ c̣n tùy vào quốc
gia nào có thể ngậm
miệng về vấn đề nhân quyền của
ĐCSTQ. Có rất nhiều thương gia Tây phương
và chính trị gia bị dẫn dắt và điều khiển
bởi lợi ích kinh
tế từ Trung Quốc. Một số công ty kỹ
thuật thông tin từ
Bắc Mỹ đă cung cấp các sản phẩm
đặc biệt cho ĐCSTQ để phong tỏa
Internet. Để đi vào thị trường Trung
Quốc, một số website Internet đă đồng ư
tự kiểm duyệt ḿnh và lọc đi tin tức mà
ĐCSTQ không thích.
Theo dữ kiện từ Bộ
Thương Mại của Trung Quốc, vào cuối tháng 4
năm 2004, Trung Quốc
đă thống kê được tổng cộng 990 tỉ
đô la Mỹ, tiền đầu tư của ngoại quốc
trong nhiều hợp đồng khác nhau. Đầu
tư từ tiền vốn ngoại quốc đă có tác
dụng truyền máu cho
nền kinh tế
của ĐCSTQ. Nhưng
trong quá tŕnh 'truyền máu' này, sự đầu tư
của nước ngoài đă không mang các khái niệm của dân chủ, tự do và nhân quyền
làm thành nguyên tắc cơ bản cho người dân Trung Quốc. ĐCSTQ đă lợi
dụng sự hợp tác "vô điều kiện" từ phía các nhà đầu tư ngoại quốc, chính quyền ngoại quốc
và sự xu nịnh của vài quốc gia để tuyên truyền cho sự
thống trị tư bản. Bằng cách lợi dụng sự thịnh
vượng bề mặt của nền kinh tế Trung
Quốc, các viên
chức ĐCSTQ đă trở nên cực kỳ lăo luyện
trong việc cấu kết với các người buôn
bán đầu tư
để phân chia tài sản quốc gia và gây trở
ngại cho cải cách chính trị.
********************
Người ta thường nghe
nói rằng: “Tôi biết trong quá khứ Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hay dối
trá, nhưng lần này nó nói sự thật”. Mỉa mai thay,
khi hồi tưởng
lại, đây là câu nói mà người dân nói mỗi lần
ĐCSTQ tạo ra sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ.
Điều này phản ảnh khả năng mà ĐCSTQ
đạt được qua nhiều thập niên là dùng
dối trá để lường gạt người dân.
Người
ta đă thành lập
vài kháng cự chống
lại những lời hoang ngôn quá mức của ĐCSTQ.
Để đáp lại, sự tuyên truyền và bịa
đặt của ĐCSTQ đă trở nên “tinh
xảo” và “chuyên nghiệp”
hơn. Tiến bộ từ những tuyên truyền theo kiểu khẩu hiệu trong
quá khứ, những lời dối trá của
Đảng cộng sản đă trở nên “trau chuốt” và “tinh xảo” hơn. Đặc biệt dưới t́nh trạng phong tỏa tin tức mà
ĐCSTQ đă dựng lên chung
quanh Trung Quốc, nó
bịa đặt
những điều
dựa trên một phần sự kiện để đánh lạc hướng công chúng,
những điều mà ngay
cả c̣n độc hại và dối trá hơn là
những chuyện bịa đặt thông
thường.
Chinascope (Trung Quốc Tụ Tiêu),
một tờ báo tiếng
Anh, có một bài viết vào tháng 10 năm 2004 phân tích những trường
hợp mà ĐCSTQ đă sử dụng những cách
thức chế tạo lời dối trá để che đậy sự thật. Khi
vụ SARS bùng nổ tại lục địa Trung Quốc
vào 2003, thế giới bên ngoài nghi ngờ Trung Quốc
dấu diếm tin tức về bệnh dịch, tuy rằng ĐCSTQ đă nhiều lần
chối bỏ để không thừa nhận nó. Để t́m hiểu ĐCSTQ có thành
thật về báo cáo bệnh SARS hay không, tác giả của
bài viết đă đọc tất cả trên 400 báo cáo
về vụ SARS từ lúc khởi đầu cho đến tháng 4 năm2003 trên website Tân Hoa.
Những báo cáo này nói rằng:
Ngay lúc SARS xuất hiện, chính quyền trung ương và
các cấp địa phương đă huy động các
chuyên gia kịp thời chữa bệnh cho các bệnh nhân
và sau đó họ đă lành bệnh và được
xuất viện. Để đối phó với các thành
phần gây rối kích động người dân đi mua sắm hàng hóa tích
trữ để tránh đi ra ngoài pḥng khi bệnh dịch
lan tràn, chính quyền
đă lập tức chận đứng tin đồn, và xúc tiến ngăn ngừa
tin đồn lan rộng, như thế trật tự xă
hội được ổn định tốt hơn.
Mặc dầu vậy một số ít các lực lượng
chống Trung Quốc đă vô cớ nghi ngờ chính
quyền Trung Quốc che dấu sự thật, hầu
hết các quốc gia và dân chúng không tin vào tin đồn này. Hội chợ Giao dịch Thương mại Quảng Châu sắp tới
sẽ có sự tham gia
lớn nhất chưa từng có của các doanh nghiệp
trên khắp thế giới. Những người du
lịch từ nước ng̣̣oài khẳng
định rằng du lịch đến Trung Quốc
rất an toàn. Đặc biệt, các chuyên gia từ Hội Y Tế Thế Giới - WHO [những người đă bị
lường gạt bởi ĐCSTQ], đă công bố rằng chính quyền Trung
Quốc đă sẵn sàng phối hợp hoạt
động, và có
biện pháp thích đáng để đối phó với
SARS, vậy sẽ không có vấn đề ǵ. Các chuyên gia đă phê chuẩn
cho tỉnh Quảng Đông
được tiến hành mở Hội chợ (sau hơn 20 ngày tŕ hoăn) sau khi
đă khảo sát vùng này.
Trên 400 bài viết này đă cho
tác giả một ấn tượng rằng ĐCSTQ
rất trung thực trong suốt 4 tháng này, đă hành động một cách có
trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe dân
chúng, và đă làm cho mọi
người tin rằng ĐCSTQ đă không che dấu
bất cứ
điều ǵ. Tuy nhiên, vào 20-4-2003, Văn Pḥng Thông Tin
của Hội Đồng Quốc Gia (Quốc vụ viện Tân văn) đă công bố trong buổi họp báo rằng
SARS đă thật sự lan tràn tại Trung Quốc, và như vậy gián tiếp
thừa nhận rằng chính quyền đă che đậy
bệnh dịch. Chỉ khi đó tác giả này mới
thấy sự thật và hiểu các thủ
đoạn lưu manh, lường gạt và “tiến cùng thời gian” mà ĐCSTQ
đă sử dụng.
Trong cuộc tổng tuyển
cử ở Đài loan, Đảng cộng sản
Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng cùng một chiến thuật “trau chuốt” và “tinh xảo” như trên, để tung tin rằng bầu
cử tổng thống sẽ dẫn đến tai họa
lớn: tỷ lệ tự sát lên cao, thị trường chứng khoán
sụp đổ, “bệnh
kỳ quặc” tăng trưởng, bệnh tâm thần,
sự di dân ra khỏi đảo, gia đ́nh bất ḥa, thái
độ bất cần đời, thị trường suy thoái, bắn
giết bừa băi, biểu t́nh và chống đối, bao
vây dinh thự tổng thống, xă hội mất an ninh, tṛ
hề chính trị, v.v… ĐCSTQ đă nhét vào trong đầu người dân
Trung Quốc Đại Lục với những luận điệu
này từng ngày, chủ tâm lèo lái người dân để họ tin rằng tất cả
những tai họa này là kết quả của
cuộc bầu cử, và Trung Quốc không bao giờ nên tổ chức bầu cử dân
chủ.
Về vấn đề Pháp Luân
Công, ĐCSTQ đă bày ra ngay cả cách thức kỹ
thuật bén nhậy hơn với lừa gạt mà được chế tạo để chụp mũ Pháp
Luân Công. Những màn biểu diễn của ĐCSTQ nối
tiếp nhau mà đến. Thảo nào mà quá nhiều
người dân Trung Quốc bị lừa gạt. Sự
tuyên truyền lưu manh của ĐCSTQ quá dối trá đến nỗi nạn
nhân của nó đă mù quáng tin vào những lời nói dối
và nghĩ rằng họ đă nắm chắc
sự thật.
Sự tuyên truyền tẩy năo
của Đảng cộng sản Trung Quốc qua nhiều thập niên trong quá
khứ đă trở nên “trau chuốt” và “bén nhậy” trong việc lường
gạt dối trá, đó là
sự bành trướng tự nhiên của bản tính lưu manh của Đảng cộng
sản.
********************
“Trong một quốc gia dân
chủ, chủ quyền nằm trong tay người dân, phù
hợp với nguyên lư của Trời và Đất. Nếu một quốc gia tuyên
bố dân chủ mà chủ quyền không thuộc về
người dân, điều đó dứt khoát là không đi
đúng đường, và chỉ có thể được coi là lệch hướng, và quốc
gia này không phải là một quốc gia dân chủ… làm sao có
được dân chủ mà không chấm dứt sự cai trị của Đảng và
không có một cuộc bầu cử phổ thông? Trả
lại nhân quyền cho người dân!”
Có phải trích dẫn trên là
giọng điệu từ
một bài viết của “kẻ thù nước ngoài”
để đả kích Đảng cộng sản
Trung Quốc chăng?
Thực ra, tuyên bố trên là từ tờ báo Tân
Hoa Nhật Báo, tờ báo chính thức của ĐCSTQ,
đăng ngày
27-9-1945.
Đảng cộng
sản Trung Quốc(ĐCSTQ) từng tuyên bố ầm
ỹ “bầu cử phổ thông” và đ̣i hỏi “trả
lại nhân quyền cho người dân”, nay lại đang xem “bầu cử phổ thông” như
là một sự cấm đoán, bởi nó chiếm quyền
lực. Những người dân được mệnh
danh là “cai quản và làm chủ đất nước” không
có bất cứ quyền hạn nào để tự
quyết định cho chính họ. Không có ngôn từ
nào thích hợp để mô tả bản tính lưu
manh của Đảng
Cộng Sản.
Nếu bạn cho rằng
những ǵ đă qua th́ cho qua, và tà giáo Đảng cộng sản
đă từng gieo rắc giết chóc và thống trị quốc gia bằng dối trá, nay sẽ lại tự cải
tổ, đi theo thiện lành, và
sẵn ḷng “trả lại nhân quyền cho nhân dân”, bạn
một lần nữa lại lầm to. Hăy nghe những ǵ tờ Nhật báo Nhân dân,
cái loa chính của ĐCSTQ đă nói vào ngày 23/10/2004, 60 năm
sau lời tuyên bố trước công chúng đă
được trích dẫn bên trên: “Kiểm soát tư tưởng chặt chẽ là
nhu cầu căn bản của cơ sở tư tưởng và nền tảng
chính trị để củng cố sự chấp
chính của Đảng”.
Gần đây nhất, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đă quăng ra cái gọi là “chủ nghĩa ba không”[6], mà cái 'không' thứ nhất là “phát triển
mà không tranh luận”. “Phát triển” chỉ là giả
tạo, nhưng “không bàn
luận” được nhấn mạnh trở thành “một tiếng nói, một hội trường”,
mới chính là mục đích thật sự của
Đảng cộng sản Trung Quốc.
Khi Giang Trạch Dân
được phỏng vấn bởi một phóng
viên nổi tiếng, Mike
Wallace, của đài CBS vào năm 2000, với vấn
đề tại sao Trung
Quốc không tổ chức bầu cử dân chủ, Giang
đă trả lời: “Người Trung Quốc học
thức quá kém”.
Tuy nhiên, ngay từ ngày 25/2/1939,
ĐCSTQ đă kêu gào
trong tờ Tân Hoa Nhật báo “Họ (Quốc Dân
Đảng) nghĩ rằng chính trị dân chủ tại
Trung Quốc không nên thực hiện ngày nay, mà là những năm về sau. Họ hy vọng rằng
vấn đề chính trị dân chủ nên đợi
đến lúc nhận thức và tŕnh độ học vấn của người dân
Trung Quốc tiến
đến tŕnh độ của các nước dân chủ
tư sản như Âu châu và Mỹ châu…
nhưng, chỉ dưới hệ thống dân chủ
mới dễ dàng giáo dục và huấn luyện dân chúng”.
Sự khác biệt trong cách
giả đạo
đức giữa những ǵ Tân Hoa đă nói vào
năm 1939 và những ǵ Giang Trạch Dân nói vào năm 2000
đă miêu tả linh
động sự thật về bộ mặt lưu manh
của Đảng cộng sản Trung Quốc.
Sau vụ Tàn Sát Thiên An Môn vào
năm 1989, ĐCSTQ lại đứng sắp hạng trên khán đài thế giới với một
thành tích về vi phạm nhân quyền đau đớn nhất. Lịch sử
đă cho ĐCSTQ một cơ hội chọn lựa.
Hoặc nó phải tôn trọng người dân của ḿnh, và thực sự cải thiện nhân quyền, hoặc nó cứ tiếp
tục chà đạp nhân quyền bên trong nội
địa Trung Quốc trong khi giả vờ với
thế giới bên ngoài là tôn trọng nhân quyền
để trốn tránh sự lên án của quốc tế.
Bất hạnh thay, Đảng
cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ), luôn luôn
giữ bản tính lưu manh, đă chọn con
đường thứ hai mà không mảy may do dự. Nó
đă tập họp
và duy tŕ một số
lớn bọn lưu manh nhưng có tài trong lănh
vực khoa học và tôn giáo, và đặc biệt chỉ dẫn
cho họ dựng lên
những tuyên truyền giả dối tại hải
ngoại, để
thổi phồng lên các tiến bộ về nhân quyền của ĐCSTQ. Nó
bịa đặt một loạt những ngụy biện
nhân quyền như “quyền sinh tồn”; hoặc
là quyền có
đồ ăn và chỗ ở. Lư lẽ biện hộ cho những
ngụy biện này là
như sau: Khi người ta đói khát th́ không thể có quyền lên tiếng hay sao? Ngay cả khi những người đói khát không
thể lên tiếng được, vậy những
người ăn uống no đủ có được
phép lên tiếng cho những người đói khát không?
ĐCSTQ thậm chí c̣n cố gắng lừa gạt người dân Trung Quốc và các
nước dân chủ Tây phương bằng cách chơi
các ván bài về nhân quyền, ngay cả rơ ràng tuyên bố rằng “hiện nay là thời kỳ tốt
nhất về nhân quyền của Trung Quốc”.
Nghị quyết 35 của Hiến pháp Trung Quốc qui định rằng người dân của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Quốc được tự do phát biểu, xuất bản, nhóm họp, hội đoàn, biểu t́nh, và diễn hành. Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đơn thuần chỉ chơi chữ mà thôi. Dưới sự thống trị của ĐCSTQ, vô số công dân bị tước đoạt quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận, xuất bản và hội họp. ĐCSTQ c̣n ra lệnh rằng việc đệ đơn thỉnh cầu lên cấp trên của các tập thể nhất định cũng bị xem là bất hợp pháp. Hơn một lần vào năm 2004, vài nhóm thường dân đệ đơn xin diễn hành tại Bắc Kinh. Thay v́ chấp nhận cho phép, chính phủ lại bắt giam những người đệ đơn. Chính sách “một quốc gia, hai hệ thống” của Hồng Kông được phê chuẩn bởi hiến pháp của ĐCSTQ cũng là một thủ đoạn. ĐCSTQ tuyên bố rằng sẽ không có thay đổi tại Hồng Kông trong ṿng 50 năm, song nó đă cố đổi hai hệ thống thành một bằng cách cố t́nh thông qua một luật chuyên chế, là nghị quyết 23, chỉ vỏn vẹn trong ṿng 5 năm kể từ khi Hồng Kông được trả về Trung Quốc [7].
Một mánh khóe mới thật
nham hiểm được tận dụng bởi
Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là giả vờ “nới lỏng tự do ngôn luận” để che
lấp sự theo dơi và khống chế chặt
chẽ đại quy mô
của nó. Người Trung Quốc ngày nay có vẻ nói lên ư nghĩ ḿnh tự do hơn và bên cạnh
đó, mạng Internet khiến cho tin tức lan rộng nhanh hơn. Như thế
ĐCSTQ tuyên bố rằng bây giờ nó cho phép tự do ngôn
luận và có rất nhiều người tin theo điều
này. Nhưng đó chỉ là
một biểu hiện giả tạo. Không phải
ĐCSTQ trở nên tốt lành, mà là Đảng không thể
ngăn chặn trào lưu phát triển xă hội và tiến
bộ kỹ thuật. Chúng ta hăy xem xét ĐCSTQ đang
đóng vai tṛ ǵ trong khía cạnh mạng
Internet: nó phong tỏa
các website, gạn lọc tin tức, theo dơi pḥng chat, kiểm
soát email, và rồi buộc tội những người
sử dụng mạng điện báo. Mỗi một điều
Đảng cộng sản làm đều từ bản tính suy đồi. Ngày nay, với sự giúp
đỡ của các nhà tư bản mà không quan tâm đến nhân quyền và
lương tri,
cảnh sát ĐCSTQ đă được trang bị
những máy móc kỹ
thuật cao để có
thể theo dơi, từ bên trong xe tuần tra, mọi hành động của
những người dùng Internet. Khi chúng ta nh́n vào sự suy
đồi của ĐCSTQ —phạm vào những hành vi tà ác giữa thanh thiên bạch
nhật— trong bối cảnh của phong trào toàn
cầu hướng về
tự do dân chủ, làm thế nào mà chúng ta có thể mong rằng nó có tiến
bộ trong nhân quyền? Chính ĐCSTQ đă nói tất
cả: “Nó nới lỏng
bên ngoài nhưng thắt chặt bên trong”. Bản tính lưu manh của Đảng
cộng sản không bao
giờ thay đổi.
Để tạo nên một h́nh ảnh tốt
đẹp cho chính ḿnh tại Ủy Ban Liên Hiệp Quốc
về nhân quyền, năm 2004 ĐCSTQ đă dàn
cảnh một loạt các
hoạt động trừng phạt nghiêm khắc những
người vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, sự kiện này chỉ là dành
riêng cho mắt quan sát
của những người ngoại quốc mà thôi, và không có thực chất.
Bởi v́ kẻ chà đạp nhân quyền lớn nhất tại Trung Quốc là
chính Đảng cộng
sản Trung Quốc, và cựu Tổng bí thư Giang Trạch Dân,
cựu bí thư Ủy ban pháp lư và chính trị Lỗ Cán,
bộ trưởng Chu Vĩnh Khang và phó bộ
trưởng Lưu Kinh của Bộ Công An. Sự tŕnh
diễn của chúng về trừng phạt những
người vi phạm nhân quyền cũng giống như một kẻ
ăn cắp đang ḥ hét:
“ Bớ người ta, bắt thằng ăn cắp!”.
Tương
tự như hành động của một tên
hiếp dâm hàng loạt là, khi c̣n có thể trốn khỏi tầm quan sát của
công chúng, hắn thường là tấn công 10 cô gái trong
một ngày. Sau đó, có quá đông người chung quanh nên hắn chỉ tấn công
một cô gái trước đám đông. Có thể nói rằng tên hiếp dâm đă thay đổi tốt
hơn hay sao? Từ
việc hắn tấn công sau lưng cho đến việc cưỡng hiếp trước công chúng chỉ chứng tỏ rằng tên
vô lại này thật là c̣n đê tiện và trơ tráo hơn
trước. Bản tính của tên hiếp dâm không thay đổi chút nào cả. Những ǵ thay
đổi chỉ là
hoàn cảnh đă không c̣n dễ dàng cho hắn phạm
tội nữa.
Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) cũng chỉ giống như tên lưu manh hiếp dâm hàng loạt đó. Bản tánh độc tài của ĐCSTQ và nỗi sợ hăi bẩm sinh về mất quyền lực đă quyết định rằng nó sẽ không tôn trọng quyền lợi của người dân. Nhân lực, nguồn vật chất, và các nguồn tài chính dùng để che dấu thành tích vi phạm nhân quyền