Bài b́nh luận số 9:

Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Lời mở đầu

     


Trong hơn 55 năm cầm quyền, Đảng Cộng Sản Trung Quốc không ngừng sửa đổi lịch sử.
 

Cuộc vận động chủ nghĩa cộng sản mà ồn ào hơn một thế kỷ chỉ mang lại cho nhân loại chiến tranh, nghèo khổ, đẫm máu và chuyên chế. Với sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và các Đảng Cộng Sản Đông Âu, vở kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng đă bước sang màn chót vào cuối thế kỷ vừa qua. Không một ai, từ thường dân đến Tổng bí thư Đảng, c̣n tin vào những lời ma quỷ của chủ nghĩa cộng sản nữa.

Chính quyền của Đảng cộng sản ra đời không phải “theo ư trời” (quân quyền thần thụ) [1] cũng không phải từ bầu cử dân chủ. Ngày nay, khi niềm tin tưởng triệt để vào sự sinh tồn của nó đă bị hủy diệt th́ tính hợp pháp của sự chấp chính này đang đối diện với một thử thách chưa từng có trong lịch sử.

Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă không thuận theo trào lưu lịch sử tự động thoái xuất khỏi vơ đài lịch sử. Thay vào đó, nó sử dụng những thủ đoạn lưu manh đă được h́nh thành trong nhiều thập niên qua các cuộc vận động chính trị để đổi mới sự giăy chết cuồng loạn của nó nhằm t́m kiếm tính hợp pháp và để cải tử hồi sinh cái quyền lực đang chết của nó.

Các chính sách cải cách và cởi mở của Đảng cộng sản Trung Quốc che đậy một ư định tuyệt vọng là duy tŕ lợi ích tập đoàn và chính quyền độc tài của nó.  Dù rằng bị trói buộc chặt chẽ, các thành quả kinh tế vẫn cứ đạt được bởi nỗ lực của nhân dân Trung Quốc trong 20 năm qua, tuy vậy vẫn không thuyết phục được ĐCSTQ buông con dao đồ tể của nó xuống. Thay vào đó, ĐCSTQ đă ăn cắp các thành quả này và sử dụng chúng để chứng thực việc nắm chính quyền của nó là hợp pháp, làm cho các hành động lưu manh từ trước đến nay của nó c̣n giả dối và lầm lạc hơn. Điều đáng sợ hơn là ĐCSTQ đang toàn lực hủy diệt nền tảng đạo đức của toàn thể dân tộc, cố gắng biến đổi mỗi một công dân Trung Quốc, trở thành các kẻ lưu manh ở mức độ khác nhau để tạo nên một hoàn cảnh sinh tồn “thăng tiến với thời gian” cho ĐCSTQ.

Vào thời điểm lịch sử hôm nay, đặc biệt quan trọng cho chúng ta hiểu được tường tận tại sao Đảng cộng sản lại hành động giống như những tên lưu manh, và cho chúng ta nhận diện cái bản tính lưu manh của nó, có như vậy đất nước Trung Quốc mới có thể đạt được ổn định và ḥa b́nh lâu dài, bước vào một kỷ nguyên thoát khỏi Đảng cộng sản càng sớm càng tốt, và xây dựng một tương lai huy hoàng của một đất nước đă được hồi phục.

******************

I. Bản chất lưu manh của Đảng Cộng Sản từ xưa đến nay không thay đổi

1. Sự cải cách của Đảng Cộng Sản là cho ai?

Trong lịch sử , cứ mỗi lần Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) gặp phải nguy cơ nó sẽ biểu lộ một số dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc người dân, h́nh thành những ảo tưởng về ĐCSTQ. Nhưng không có ngoại lệ nào cả, các ảo tưởng đă tan vỡ từng lần, từng lần một. Ngày nay ĐCSTQ đang theo đuổi các lợi ích ngắn hạn nhằm tŕnh diễn một màn kịch kinh tế thịnh vượng để một lần nữa thuyết phục người dân tin vào các ảo tưởng của nó. Tuy nhiên, những xung đột cơ bản giữa lợi ích của bản thân Đảng cộng sản, với lợi ích của quốc gia dân tộc đă quyết định rằng sự thịnh vượng giả dối này sẽ không kéo dài lâu nữa. “Sự cải cách” mà ĐCSTQ đă hứa hẹn chỉ có một nguyên do: duy tŕ sự thống trị của ĐCSTQ. Nó là một cải cách yếu kém khập khiễng, một thay đổi trên bề mặt chứ không phải bản chất. Nằm bên dưới của sự phát triển khập khiễng đang tiềm ẩn một nguy cơ to lớn của xă hội. Một khi nguy cơ bùng nổ, quốc gia và dân tộc một lần nữa sẽ gặp khổ nạn.

Với sự thay đổi lănh tụ, thế hệ lănh đạo mới của ĐCSTQ không có phần trong cuộc cách mạng cộng sản thời xưa, bởi thế sẽ có ít uy tín và tín nhiệm hơn trong việc điều hành quốc gia. Giữa cơn nguy cơ về tính cách hợp pháp của , việc bảo vệ lợi ích Đảng của ĐCSTQ đă trở thành một bảo đảm căn bản ngày càng tăng nhằm duy tŕ quyền lợi của những cá nhân trong nội bộ ĐCSTQ. Ích kỷ mà không kiềm chế được là bản tính của Đảng cộng sản . Hy vọng một Đảng như vậy có thể hiến dâng chính để phát triển quốc gia một cách ḥa b́nh th́ chỉ là một mơ tưởng hăo huyền.

Chúng ta hăy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ, đă nói ǵ trên trang đầu vào ngày 12/7/2004: “Những phương pháp biện chứng trong lịch sử đă dạy cho các thành viên của ĐCSTQ điều sau đây: Điều nên đổi th́ phải thay đổi, nếu không, suy đồi sẽ theo sau. Điều ǵ không nên đổi th́ cố giữ không đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến tự huỷ diệt.”

Cái ǵ cần phải giữ không đổi?  Tờ Nhân Dân nhật báo giải thích như thế này: “Đường lối cơ bản của Đảng là 'một trung tâm, hai điểm cơ bản' phải kéo dài vững chắc trong trăm năm không một dao động”[2]. Người dân không nhất thiết phải hiểu cái gọi là “trung tâm” và “điểm cơ bản” tượng trưng cho cái ǵ, song mọi người đều biết rằng cái quyết tâm của tà linh cộng sản là duy tŕ lợi ích tập thể, sự chuyên chế độc tài sẽ không bao giờ thay đổi. Chủ nghĩa cộng sản đă bị thất bại trên toàn cầu, đang bị sụp đổ đến độ càng ngày càng suy tàn. Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối th́ một thứ ǵ càng thối nát lại càng có tính tàn phá. Bàn luận về cải biến dân chủ với Đảng Cộng Sản chẳng khác ǵ yêu cầu cọp dữ khoác bộ da mới.

2.Không có Đảng Cộng Sản th́ Trung Quốc đó sẽ làm thế nào ?

Trong khi Đảng Cộng Sản đang suy bại, người ta bất ngờ khám phá ra rằng qua nhiều thập niên tà linh phụ thể của Đảng cộng sản với những thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn hóa đă thấm nhuần những yếu tố tà ác của nó vào trong mọi khía cạnh đời sống của người dân.

Khi Mao Trạch Đông chết, nhiều người đă khóc cay đắng trước tấm h́nh của Mao, tự hỏi “Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc sẽ ra sao?” Mỉa mai thay, 20 năm sau, khi Đảng Cộng Sản đă mất tính hợp pháp để nắm chính quyền quốc gia của nó, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă cho lan rộng một đợt tuyên truyền mới làm người dân một lần nữa lại tự hỏi một cách lo âu: “Nước Trung Quốc sẽ làm được ǵ nếu không có Đảng Cộng Sản?”

Trên thực tế, sự khống chế chính trị lan tràn khắp nơi của ĐCSTQ đă khắc sâu vào nền văn hóa hiện tại và tư tưởng người Trung Quốc đến nỗi ngay cả chuẩn mực mà người Trung Quốc đánh giá ĐCSTQ đều có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc xuất phát từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ khống chế dân chúng bằng cách truyền thấm nhuần nhuyễn những yếu tố của nó vào họ, th́ giờ đây ĐCSTQ đă đến lúc phải gặt hái những ǵ nó gieo mầm, bởi v́ những điều thấm nhuần trong tâm trí người dân đă được tiêu hóa và hấp thụ vào từng tế bào của họ. Người dân suy nghĩ dựa theo lư luận của ĐCSTQ, và tự đặt ḿnh vào vị trí của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các sinh viên biểu t́nh ngày 4/6/1989, có người bảo “Nếu tôi là Đặng Tiểu B́nh tôi cũng sẽ dập tắt cuộc nổi loạn bằng xe tăng”. Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng tiêu diệt Pháp Luân Công.” Về việc cấm tự do ngôn luận, có người bảo rằng “Nếu tôi là Đảng cộng sản tôi cũng làm như vậy.” Chân lư và lương tri không c̣n nữa, chỉ c̣n lại lô-gic của Đảng cộng sản. Đây là một trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm nhất của ĐCSTQ đă được ĐCSTQ sử dụng v́ bản tính lưu manh của nó. Khi nào những độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đă tiêm nhiễm vào vẫn c̣n trong đầu óc người ta, th́ ĐCSTQ càng có cơ hội tiếp tục thâu đoạt năng lượng để duy tŕ sinh mạng lưu manh của nó.

“Nước Trung Quốc sẽ làm được ǵ nếu không có Đảng Cộng Sản?” Lối suy nghĩ này phù hợp chính xác với mục đích của ĐCSTQ là làm cho người dân suy luận theo lô-gic của nó.

Dân tộc Trung Hoa đă trải qua 5000 năm lịch sử văn minh của họ mà không có Đảng cộng sản. Thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới lại ngừng tiến triển xă hội chỉ v́ sự sụp đổ của một chế độ nào đó. Tuy nhiên sau hàng chục thập niên dưới sự thống trị của ĐCSTQ, người dân đă không c̣n nhận ra được sự thực này. Sự tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ đă rèn luyện người dân nghĩ Đảng như là mẹ đẻ của họ. Các đường lối chính trị của ĐCSTQ có mặt ở khắp nơi đă khuất phục người dân, làm cho họ không thể nhận thức được cuộc sống không có Đảng cộng sản sẽ ra sao.

Không có Mao Trạch Đông, Trung Quốc đă không đổ vỡ. Như vậy nếu không có Đảng cộng sản th́ nước Trung Hoa có sụp đổ chăng? !

3. Ai là nguồn thật sự gây rối loạn?

Rất nhiều người biết và không thích những hành vi lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ đấu tranh và dối trá của nó. Nhưng đồng thời họ lại sợ hăi những cuộc vận động chính trị của ĐCSTQ và những bạo động gây rối loạn, rồi sợ sự rối loạn một lần nữa sẽ viếng thăm Trung Quốc. Bởi thế, mỗi khi ĐCSTQ hăm dọa người dân với chữ “rối loạn”; người dân liền lặng lẽ chấp thuận sự thống trị của ĐCSTQ, cảm thấy vô vọng khi đối diện với quyền lực chuyên chế của ĐCSTQ.

Trên thực tế, với hàng triệu quân đội và cảnh sát vơ trang, ĐCSTQ là nguồn rối loạn thật sự. Những người dân thường không tài nào gây nên hoặc có khả năng khởi xướng rối loạn cho quốc gia. Chỉ có ĐCSTQ thoái hóa mới nhẫn tâm  mang đất nước đến rối loạn qua bất cứ dấu hiệu thay đổi nào. “Ổn định quan trọng hơn tất cả mọi thứ” và “Nhổ tận gốc mầm mống của tất cả các yếu tố nguyên nhân làm bất ổn định” — các khẩu hiệu này đă trở thành nền móngluận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp người dân. Vậy ai là nguyên nhân lớn nhất tạo ra sự bất ổn định tại Trung Quốc? Phải chăng chính là ĐCSTQ một chính quyền chuyên dùng bạo lực? ĐCSTQ là chủ mưu của rối loạn, và sau đó đến lượt nó lại dùng chính sự rối loạn nó tạo ra ấy để ép buộc người dân. Những bọn lưu manh xưa nay đều làm như thế cả .

********************

II. Phát triển kinh tế trở thành tế phẩm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Lạm dụng danh nghiă để cướp đoạt những thành quả từ công khó nhọc của nhân dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) tự nhận “tính hợp pháp” của nó do từ sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên trên thực tế sự phát triển này đă dần dần đạt được nhờ nhân dân Trung Quốc lao động, sau khi những gông cùm của ĐCSTQ được nới lỏng một chút, do đó sự phát triển kinh tế không liên quan ǵ đến công lao của chính ĐCSTQ. Dầu vậy, ĐCSTQ đă tuyên bố là sự phát triển kinh tế này là do thành tựu của chính nó, và yêu cầu người dân phải biết ơn Đảng, như thể là sẽ không có một phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trong thực tế tất cả chúng ta đều biết rằng có nhiều quốc gia phi cộng sản, từ lâu đă thành công trong việc tăng trưởng kinh tế, và c̣n nhanh chóng hơn.

Khi đạt được huy chương vàng tại thế vận hội Olympic, thể tháo gia bị bắt buộc phải cám ơn Đảng. Đảng không ngần ngại sử dụng h́nh ảnh bày đặt “thể thao đại quốc ” để tự ca tụng. Trung Quốc đă trải qua nhiều đau khổ trong bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhật báo Nhân dân đă báo cáo rằng Trung Quốc đă chiến thắng vi khuẩn “dựa theo lư luận cơ bản, đường lối cơ bản, nguyên tắc cơ bản và kinh nghiệm cơ bản của Đảng”. Việc phóng vệ tinh Thần Châu 5 của Trung Quốc đă được thực hiện bởi các chuyên gia khoa học và kỹ thuật, nhưng ĐCSTQ đă lấy đó làm bằng chứng để chứng minh rằng chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hướng dẫn người dân Trung Quốc bước vào hàng các cường quốc trên thế giới.  Sự việc Trung Quốc làm chủ tổ chức thế vận hội Olympic năm 2008,thực ra các nước Tây phương ban cho Trung Quốc cái “cành Ô-liu” (biểu trưng của đề nghị ḥa b́nh) để khuyến khích Trung Quốc cải thiện t́nh h́nh nhân quyền, nhưng ĐCSTQ dùng điều này để nâng cao những tuyên bố về tính hợp pháp của nó, và để dùng như một cái cớ để trấn áp người dân Trung Quốc. “Tiềm lực thị trường lớn mạnh” của Trung Quốc có được nhờ vào các nhà đầu tư ngoại quốc, bắt nguồn từ năng lực tiêu thụ của 1.3 tỷ  người dân của Trung Quốc. ĐCSTQ đă chiếm đoạt tiềm lực này, và rồi biến nó thành vơ khí sắc bén dùng để làm áp lực các xă hội phương Tây phải hợp tác với sự thống trị của ĐCSTQ.

 Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) qui tội tất cả những thứ xấu vào các lực lượng phản động và động cơ ngầm của các cá nhân, trong khi đó nhận những ǵ tốt về cho ban lănh đạo của Đảng. ĐCSTQ sử dụng mỗi một thành quả để khiến cho việc tuyên bố về tính hợp pháp của sự thống trị của nó có sức thuyết phục hơn. Ngay cả những việc làm sai mà ĐCSTQ phạm phải cũng được biến thành cái ǵ đó “tốt” để phục vụ các mục đích của nó. Ví dụ khi sự thật về sự lan tràn khủng khiếp của bệnh AIDS không c̣n che dấu được nữa, ĐCSTQ bất thần chế tạo ra luận điệu mới. Chúng khéo léo vận chuyển bộ máy tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi người từ minh tinh nổi tiếng đến Tổng bí thư Đảng để tô vẽ chân dung ĐCSTQ, kẻ thủ phạm đầu sỏ, thành người tiêu diệt bệnh AIDS, người thách đấu với bệnh tật của nhân loại, và như là một điều may mắn cho bệnh nhân. Trong việc giải quyết những vấn đề liên quan tới sống chết nghiêm trọng như vậy, tất cả những ǵ ĐCSTQ có thể nghĩ đến là làm thế nào sử dụng vấn đề đó để tự ca ngợi ḿnh. Chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hành động nhẫn tâm, lưu manh chiếm đoạt và hoàn toàn không kể ǵ đến mạng sống con người.

2. Việc làm ngắn hạn gây nên bất lợi kinh tế

Đối diện nghiêm trọng với “nguy cơ về tính hợp pháp”, ĐCSTQ đă thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa vào thập niên 80 để duy tŕ sự thống trị của nó. Háo hức thành công nhanh chóng đă đặt Trung Quốc vào một thế bất lợi mà những nhà kinh tế học gọi là “tai họa cho kẻ đến muộn”.

Những khái niệm “tai họa cho kẻ đến muộn” hoặc là “lợi thế cho kẻ đến muộn”, mà một số các học giả đă gọi, chỉ về sự kiện của các quốc gia lạc hậu, có nghĩa là sự phát triển được khởi công muộn, có thể bắt chước các nước tiên tiến trong nhiều mặt. Có hai h́nh thức bắt chước: bắt chước hệ thống xă hội và bắt chước các mô h́nh kỹ thuật và công nghiệp. Thông thường bắt chước hệ thống xă hội là khó, v́ cải tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến quyền lợi tương lai của một số tập đoàn chính trị hay xă hội. V́ vậy các quốc gia lạc hậu có khuynh hướng bắt chước kỹ thuật của các nước tiên tiến. Mặc dầu bắt chước kỹ thuật có thể tạo nên phát triển kinh tế nhất thời, nhưng nó có thể dẫn đến nhiều may rủi tiềm ẩn hoặc ngay cả thất bại đối với mục tiêu phát triển dài hạn.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chính là đang đi theo con đường “tai họa cho kẻ đến muộn”, một con đường thất bại. Qua hai thập niên vừa rồi, “bắt chước kỹ thuật” của Trung Quốc đă thật sự dẫn đến một số thành tích, mà ĐCSTQ đă dành về phần ḿnh, hầu để chứng minh “tính hợp pháp” của nó, và tiếp tục ngăn cản cải cách chính trị mà có lẽ sẽ làm hại tới lợi ích riêng của ĐCSTQ. V́ vậy, lợi ích lâu dài của quốc gia đă bị hy sinh.

3. Cái giá thảm thương phải trả cho sự phát triển kinh tế của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) không ngừng khoe khoang về tiến bộ kinh tế của ḿnh, th́ trên thực tế, kinh tế Trung Quốc ngày nay sắp hạng trên thế giới c̣n thấp hơn thời của vua Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong thời vua Càn Long, GDP (Gross Domestic Products hay Tổng sản lượng quốc nội) của Trung Quốc được coi như bằng 51% của tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập nước Cộng ḥa Trung Quốc (thời Quốc Dân Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc bằng được khoảng 27% của tổng số thế giới. Vào 1923, tỷ lệ phần trăm giảm xuống, nhưng vẫn c̣n được 12%. Đến 1949, khi ĐCSTQ nắm chính quyền, tỷ lệ xuống đến 5.7%, nhưng đến 2003, GDP của Trung Quốc giảm xuống ít hơn 4% tổng số của thế giới. Tương phản với sự tụt dốc kinh tế trong thời kỳ Quốc Dân Đảng v́ phải trải qua nhiều chục năm chiến tranh, th́ sự tụt dốc kinh tế liên tục trong thời kỳ ĐCSTQ nắm quyền lại xảy ra trong thời b́nh.

Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của ḿnh, ĐCSTQ hăm hở muốn đạt thành công nhanh chóng và những lợi ích tức thời. Sự cải cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ đă phát động hầu để bảo vệ lợi ích riêng tư cho chính nó, là một tổn thất lớn cho quốc gia. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng trong 20 năm qua, tới một phạm vi rộng, được xây dựng trên sự lạm dụng hoặc ngay cả lăng phí các nguồn tài nguyên, và đă đạt được với cái giá của sự tàn phá môi trường. Một phần lớn GDP của Trung Quốc đạt được bằng cách hy sinh những cơ hội của các thế hệ tương lai. Vào 2003, Trung Quốc đă đóng góp dưới 4% cho kinh tế thế giới, trong khi đó mức tiêu thụ về sắt, xi măng và những vật dụng khác lên đến 1/3 tổng số tiêu thụ toàn cầu [3].

Từ thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, những vùng đất bị bỏ hoang ở Trung Quốc tăng từ 1000 đến 2460 ki-lô mét vuông (386 đến 950 dặm vuông). Đất trồng trọt cho mỗi đầu người cũng giảm sút từ 2 mẫu vào 1980 đến 1,43 mẫu vào 2003[4]. Phong trào lớn mạnh thu hồi/giải tỏa đất đai rầm rộ để phát triển đă làm Trung Quốc mất 100 triệu mẫu đất để trồng trọt trong ṿng chỉ vài năm. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ đất thu hồi được đem sử dụng chỉ là 43%. Hiện thời, tổng số lượng nước phế thải là 43,95 triệu tấn, vượt quá 82% dung lượng của môi trường Trong bảy hệ thống sông ng̣i chính, 40,9% lượng nước không thích hợp để dùng cho người và súc vật uống. 75% mương hồ bị ô nhiễm nên đă sinh ra các mức độ nuôi dưỡng rong rêu, chất bẩn trong nước khác nhau[5]. Chưa bao giờ sự xung đột giữa người và sự TNhiên tại Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay. Trung Quốc hay thế giới không tài nào cưỡng lại sự phát triển không lành mạnh như vậy. Bị che mắt bởi hào nhoáng bề mặt của các cao ốc và biệt thự, người dân không biết đến sự khủng hoảng sinh thái đang treo lơ lửng. Tuy nhiên, hễ đến lúc luật tự nhiên trừng phạt nhân loại, nó sẽ mang đến những hậu quả thảm khốc cho nước Trung Hoa.

So sánh với nước Nga từ sau khi rũ bỏ chủ nghiă cộng sản, đă thực hiện cải cách kinh tế và chính trị cùng một lúc. Sau khi trải qua một khoảng thời gian khó khăn ngắn, Nga bắt đầu phát triển nhanh chóng. Từ 1999 đến 2003, GDP của Nga đă tăng tổng số được 29,9%. Mức sống người dân cũng được cải thiện đáng kể. Giới thương mại Tây phương đă không những bắt đầu bàn luận “hiện tượng kinh tế Nga”, mà c̣n bắt đầu đầu tư vào Nga —một thị trường nóng hổi mới— trên phạm vi rộng. Thứ hạng của Nga trong các quốc gia hấp dẫn nhất để đầu tư, đă nhảy từ vị trí thứ 17 vào năm 2002 đến vị trí thứ 8 trong năm 2003, lần đầu tiên trở thành một trong 10 nước hấp dẫn nhất trên thế giới để đầu tư.

Ngay cả Ấn độ, một quốc gia mà trong tư tưởng của hầu hết người dân Trung Quốc là nghèo nàn và đầy những xung đột sắc tộc, đă hưởng được sự phát triển vượt bực và đạt được thành tựu phát triển kinh tế với tỷ lệ là 7- 8% hằng năm từ khi cải cách kinh tế vào năm 1991. Ấn Độ có hệ thống pháp luật khá đầy đủ về kinh tế thị trường, một hệ thống tài chính dồi dào, một hệ thống dân chủ phát triển tốt, tâm thái người dân ổn định. Quốc gia này đă được cộng đồng quốc tế công nhận là một nước có tiềm lực phát triển lớn.

Tương phản lại, ĐCSTQ, chỉ tham gia vào cải cách kinh tế mà không có cải cách chính trị. Bộ mặt kinh tế giả tạo nở rộ nhất thời đă cản trở “sự phát triển các hệ thống xă hội” tự nhiên. Chính sự cải cách không đầy đủ này đă gia tăng sự mất cân bằng trong xă hội Trung Quốc và làm các mâu thuẫn xă hội càng thêm sâu sắc. Những lợi nhuận tài chính mà người dân đạt được không được các hệ thống xă hội ổn định bảo vệ. Hơn thế nữa, trong quá tŕnh tư hữu hóa các tài sản quốc gia, những kẻ nắm quyền hành trong ĐCSTQ đă lợi dụng quyền thế để nhét đầy vào túi riêng của ḿnh.

4. Đảng Cộng Sản Trung Quốc không ngừng gian lận nông dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) dựa vào nông dân để đoạt quyền lực. Những người nông dân trong các vùng Đảng thống trị, đă cống hiến tất cả những ǵ họ sở hữu cho ĐCSTQ từ lúc nó mới phôi thai. Nhưng sau khi ĐCSTQ nắm quyền lực quốc gia, những người nông dân đă phải trải qua sự phân biệt đối xử trầm trọng.

Sau khi ĐCSTQ thành lập chính quyền, nó đă sắp xếp một hệ thống vô cùng bất công: đó là hệ thống đăng kư cư trú. Hệ thống này ép buộc chia người dân thành 2 loại: nông dân và dân thành thị, tạo ra một sự chia rẽ vô lư và chống đối trong nội bộ quốc gia. Nông dân không có bảo hiểm sức khỏe, không có tiền trợ cấp thất nghiệp, không có tiền hưu trí và không được vay tiền ngân hàng. Người nông dân không những thuộc giai cấp bần cùng nhất tại Trung Quốc, cũng là giai cấp bị đánh thuế nặng nhất. Nông dân cần phải trả tiền cho quỹ tiết kiệm bắt buộc, quỹ trợ cấp xă hội, quỹ quản lư hành chánh, lệ phí giáo dục bổ xung, lệ phí kiểm soát sinh đẻ, lệ phí tổ chức và huấn luyện quân đội, lệ phí xây đường quốc gia và lệ phí bồi thường quân sự. Bên cạnh tất cả lệ phí này, họ c̣n phải bán một phần thóc lúa mà họ đă sản xuất theo một tỷ lệ cố định cho nhà nước như là một yêu cầu bắt buộc, và phải trả thuế nông nghiệp, thuế đất, thuế sản xuất vùng đặc biệt, thuế giết mổ và c̣n thêm vào nhiều thuế khác. Ngược lại dân cư thành thị không phải trả thuế và những lệ phí này.

Vào đầu năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đă phát hành “hồ sơ số 1” nói rằng nông thôn Trung Quốc đang đối diện với t́nh thế khó khăn nhất từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1978. Lợi tức của hầu hết nông dân đă không tăng hoặc ngay cả c̣n xuống dốc. Họ càng nghèo hơn, và sự cách biệt lợi tức giữa dân nông thôn và dân thành thị tiếp tục nới rộng ra.

Trong một lâm trường ở phía đông tỉnh Tứ Xuyên, nhà chức trách cấp trên đă chi ra 500 ngàn đồng Yuan (khoảng 60.500 đô la Mỹ) cho một chương tŕnh trồng lại rừng. Những người lănh đạo lâm trường trước hết bỏ túi 200 ngàn đồng Yuan, rồi mới phân phối 300 ngàn đồng Yuan c̣n lại để trồng rừng. Nhưng mỗi khi qua mỗi một cấp quản lư, số tiền lại bị mất dần, cuối cùng chỉ c̣n lại một ít dành cho những nông dân trong vùng, những người mà thật sự trồng rừng. Chính quyền không cần phải lo lắng rằng những người nông dân sẽ từ chối làm việc v́ ngân khoản không đủ. Những nông dân này quá nghèo đến nỗi họ phải làm việc với tiền công rất ít. Đây là một trong những lư do sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc “made in China” lại rất rẻ.

 5. Dùng lợi ích kinh tế để uy hiếp các nước Tây phương

Nhiều người tưởng rằng buôn bán với Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhân quyền, tự do ngôn luận và cải cách dân chủ cho Trung Quốc. Sau hơn một thập niên, chứng minh rằng điều này chỉ là mơ tưởng. Một so sánh về nguyên tắc làm thương mại ở Trung Quốc và các nước Tây phương cho ta một ví dụ điển h́nh: sự trong suốt công b́nh của Tây phương được thay thế bởi những quan hệ riêng cá nhân, hối lộ và biển thủ ở Trung Quốc. Nhiều công ty Tây phương đă trở thành thủ phạm hàng đầu v́ đă làm trầm trọng thêm sự thối nát của Trung Quốc. Một số công ty ngay cả c̣n giúp ĐCSTQ dấu diếm những vi phạm nhân quyền và đàn áp chính người dân của nó.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) hành động như Mafia bằng cách chơi ván bài kinh tế trong chính sách đối ngoại. Hợp đồng chế tạo máy bay của Trung Quốc sẽ được giao cho Pháp hay Mỹ c̣n tùy vào quốc gia nào có thể ngậm miệng về vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Có rất nhiều thương gia Tây phương và chính trị gia bị dẫn dắt và điều khiển bởi lợi ích kinh tế từ Trung Quốc. Một số công ty kỹ thuật thông tin từ Bắc Mỹ đă cung cấp các sản phẩm đặc biệt cho ĐCSTQ để phong tỏa Internet. Để đi vào thị trường Trung Quốc, một số website Internet đă đồng ư tự kiểm duyệt ḿnh và lọc đi tin tức mà ĐCSTQ không thích.

Theo dữ kiện từ Bộ Thương Mại của Trung Quốc, vào cuối tháng 4 năm 2004, Trung Quốc đă thống kê được tổng cộng 990 tỉ đô la Mỹ, tiền đầu tư của ngoại quốc trong nhiều hợp đồng khác nhau. Đầu tư từ tiền vốn ngoại quốc đă có tác dụng truyền máu cho nền kinh tế của ĐCSTQ. Nhưng trong quá tŕnh 'truyền máu' này, sự đầu tư của nước ngoài  đă không mang các khái niệm của dân chủ, tự do và nhân quyền làm thành nguyên tắc cơ bản cho người dân Trung Quốc. ĐCSTQ đă lợi dụng sự hợp tác "vô điều kiện" từ phía các nhà đầu tư ngoại quốc, chính quyền ngoại quốc và sự xu nịnh của vài quốc gia để tuyên truyền cho sự thống trị tư bản. Bằng cách lợi dụng sự thịnh vượng bề mặt của nền kinh tế Trung Quốc, các viên chức ĐCSTQ đă trở nên cực kỳ lăo luyện trong việc cấu kết với các người buôn bán đầu tư để phân chia tài sản quốc gia và gây trở ngại cho cải cách chính trị.

********************

III. Kỹ thuật tẩy năo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Từ “thô sơ” đến “tinh  xảo

Người ta thường nghe nói rằng: “Tôi biết trong quá khứ Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hay dối trá, nhưng lần này nó nói sự thật”. Mỉa mai thay, khi hồi tưởng lại, đây là câu nói mà người dân nói mỗi lần ĐCSTQ tạo ra sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Điều này phản ảnh khả năng mà ĐCSTQ đạt được qua nhiều thập niên là dùng dối trá để lường gạt người dân.

Người ta đă thành lập vài kháng cự chống lại những lời hoang ngôn quá mức của ĐCSTQ. Để đáp lại, sự tuyên truyền và bịa đặt của ĐCSTQ đă trở nên “tinh xảo” và “chuyên nghiệp” hơn. Tiến bộ từ những tuyên truyền theo kiểu khẩu hiệu trong quá khứ, những lời dối trá của Đảng cộng sản đă trở nên “trau chuốt” và “tinh xảo hơn. Đặc biệt dưới t́nh trạng phong tỏa tin tức mà ĐCSTQ đă dựng lên chung quanh Trung Quốc, nó bịa đặt những điều dựa trên một phần sự kiện để đánh lạc hướng công chúng, những điều ngay cả c̣n độc hại và dối trá hơn là những chuyện bịa đặt thông thường.

Chinascope (Trung Quốc Tụ Tiêu), một tờ báo tiếng Anh, có một bài viết vào tháng 10 năm 2004 phân tích những trường hợp mà ĐCSTQ đă sử dụng những cách thức chế tạo lời dối trá để che đậy sự thật. Khi vụ SARS bùng nổ tại lục địa Trung Quốc vào 2003, thế giới bên ngoài nghi ngờ Trung Quốc dấu diếm tin tức về bệnh dịch, tuy rằng ĐCSTQ đă nhiều lần chối bỏ để không thừa nhận nó. Để t́m hiểu ĐCSTQ có thành thật về báo cáo bệnh SARS hay không, tác giả của bài viết đă đọc tất cả trên 400 báo cáo về vụ SARS từ lúc khởi đầu cho đến tháng 4 năm2003 trên website Tân Hoa.

Những báo cáo này nói rằng: Ngay lúc SARS xuất hiện, chính quyền trung ương và các cấp địa phương đă huy động các chuyên gia kịp thời chữa bệnh cho các bệnh nhân và sau đó họ đă lành bệnh và được xuất viện. Để đối phó với các thành phần gây rối kích động người dân đi mua sắm hàng hóa tích trữ để tránh đi ra ngoài pḥng khi bệnh dịch lan tràn, chính quyền đă lập tức chận đứng tin đồn, và xúc tiến ngăn ngừa tin đồn lan rộng, như thế trật tự xă hội được ổn định tốt hơn. Mặc dầu vậy một số ít các lực lượng chống Trung Quốc đă vô cớ nghi ngờ chính quyền Trung Quốc che dấu sự thật, hầu hết các quốc gia và dân chúng không tin vào tin đồn này. Hội chợ Giao dịch Thương mại Quảng Châu sắp tới sẽ có sự tham gia lớn nhất chưa từng có của các doanh nghiệp trên khắp thế giới. Những người du lịch từ nước ng̣̣oài khẳng định rằng du lịch đến Trung Quốc rất an toàn. Đặc biệt, các chuyên gia từ Hội Y Tế Thế Giới - WHO [những người đă bị lường gạt bởi ĐCSTQ], đă công bố rằng chính quyền Trung Quốc đă sẵn sàng phối hợp hoạt động, và có biện pháp thích đáng để đối phó với SARS, vậy sẽ không có vấn đề ǵ. Các chuyên gia đă phê chuẩn cho tỉnh Quảng Đông được tiến hành mở Hội chợ (sau hơn 20 ngày tŕ hoăn) sau khi đă khảo sát vùng này.

Trên 400 bài viết này đă cho tác giả một ấn tượng rằng ĐCSTQ rất trung thực trong suốt 4 tháng này, đă hành động một cách có trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe dân chúng, và đă làm cho mọi người tin rằng ĐCSTQ đă không che dấu bất cứ điều ǵ. Tuy nhiên, vào 20-4-2003, Văn Pḥng Thông Tin của Hội Đồng Quốc Gia (Quốc vụ viện Tân văn) đă công bố trong buổi họp báo rằng SARS đă thật sự lan tràn tại Trung Quốc, và như vậy gián tiếp thừa nhận rằng chính quyền đă che đậy bệnh dịch. Chỉ khi đó tác giả này mới thấy sự thật và hiểu các thủ đoạn lưu manh, lường gạt và “tiến cùng thời gian” mà ĐCSTQ đă sử dụng.

Trong cuộc tổng tuyển cử ở Đài loan, Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng cùng một chiến thuật “trau chuốt” và “tinh xảo như trên, để tung tin rằng bầu cử tổng thống sẽ dẫn đến tai họa lớn: tỷ lệ tự sát lên cao, thị trường chứng khoán sụp đổ, “bệnh kỳ quặc” tăng trưởng, bệnh tâm thần, sự di dân ra khỏi đảo, gia đ́nh bất ḥa, thái độ bất cần đời, thị trường suy thoái, bắn giết bừa băi, biểu t́nh và chống đối, bao vây dinh thự tổng thống, xă hội mất an ninh, tṛ hề chính trị, v.v… ĐCSTQ đă nhét vào trong đầu người dân Trung Quốc Đại Lục với những luận điệu này từng ngày, chủ tâm lèo lái người dân để họ tin rằng tất cả những tai họa này là kết quả của cuộc bầu cử, và Trung Quốc không bao giờ nên tổ chức bầu cử dân chủ.

Về vấn đề Pháp Luân Công, ĐCSTQ đă bày ra ngay cả cách thức kỹ thuật bén nhậy hơn với lừa gạt mà được chế tạo để chụp mũ Pháp Luân Công. Những màn biểu diễn của ĐCSTQ nối tiếp nhau mà đến. Thảo nào mà quá nhiều người dân Trung Quốc bị lừa gạt. Sự tuyên truyền lưu manh của ĐCSTQ quá dối trá đến nỗi nạn nhân của nó đă mù quáng tin vào những lời nói dối và nghĩ rằng họ đă nắm chắc sự thật.

Sự tuyên truyền tẩy năo của Đảng cộng sản Trung Quốc qua nhiều thập niên trong quá khứ đă trở nên “trau chuốt” và “bén nhậy” trong việc lường gạt dối trá, đó là sự bành trướng tự nhiên của bản tính lưu manh của Đảng cộng sản.

********************

IV. Ngụy trang nhân quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Từ tranh giành dân chủ để đoạt quyền lực đến thống trị độc tài và ngụy trang nhân quyền

“Trong một quốc gia dân chủ, chủ quyền nằm trong tay người dân, phù hợp với nguyên lư của Trời và Đất. Nếu một quốc gia tuyên bố dân chủ mà chủ quyền không thuộc về người dân, điều đó dứt khoát là không đi đúng đường, và chỉ có thể được coi là lệch hướng, và quốc gia này không phải là một quốc gia dân chủ… làm sao có được dân chủ mà không chấm dứt sự cai trị của Đảng và không có một cuộc bầu cử phổ thông? Trả lại nhân quyền cho người dân!”

Có phải trích dẫn trên là giọng điệu từ một bài viết của “kẻ thù nước ngoài” để đả kích Đảng cộng sản Trung Quốc chăng? Thực ra, tuyên bố trên là từ tờ báo Tân Hoa Nhật Báo, tờ báo chính thức của ĐCSTQ, đăng ngày 27-9-1945.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) từng tuyên bố ầm ỹ “bầu cử phổ thông” và đ̣i hỏi “trả lại nhân quyền cho người dân”, nay lại đang xem “bầu cử phổ thông” như là một sự cấm đoán, bởi nó chiếm quyền lực. Những người dân được mệnh danh là “cai quản và làm chủ đất nước” không có bất cứ quyền hạn nào để tự quyết định cho chính họ. Không có ngôn từ nào thích hợp để mô tả bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản.

Nếu bạn cho rằng những ǵ đă qua th́ cho qua, giáo Đảng cộng sản đă từng gieo rắc giết chóc và thống trị quốc gia bằng dối trá, nay sẽ lại tự cải tổ, đi theo thiện lành, và sẵn ḷng “trả lại nhân quyền cho nhân dân”, bạn một lần nữa lại lầm to. Hăy nghe những ǵ tờ Nhật báo Nhân dân, cái loa chính của ĐCSTQ đă nói vào ngày 23/10/2004, 60 năm sau lời tuyên bố trước công chúng đă được trích dẫn bên trên: “Kiểm soát tư tưởng chặt chẽ là nhu cầu căn bản của cơ sở tư tưởng và nền tảng chính trị để củng cố sự chấp chính của Đảng”.

Gần đây nhất,  Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đă quăng ra cái gọi là “chủ nghĩa ba không”[6], mà cái 'không' thứ nhất là “phát triển không tranh luận”. “Phát triển” chỉ là giả tạo, nhưng “không bàn luận” được nhấn mạnh trở thành “một tiếng nói, một hội trường”, mới chính là mục đích thật sự của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Khi Giang Trạch Dân được phỏng vấn bởi một phóng viên nổi tiếng, Mike Wallace, của đài CBS vào năm 2000, với vấn đề tại sao Trung Quốc không tổ chức bầu cử dân chủ, Giang đă trả lời: “Người Trung Quốc học thức quá kém”.

Tuy nhiên, ngay từ ngày 25/2/1939, ĐCSTQ đă kêu gào trong tờ Tân Hoa Nhật báo “Họ (Quốc Dân Đảng) nghĩ rằng chính trị dân chủ tại Trung Quốc không nên thực hiện ngày nay, mà là những năm về sau. Họ hy vọng rằng vấn đề chính trị dân chủ nên đợi đến lúc nhận thức và tŕnh độ học vấn của người dân Trung Quốc tiến đến tŕnh độ của các nước dân chủ tư sản như Âu châu và Mỹ châu… nhưng, chỉ dưới hệ thống dân chủ mới dễ dàng giáo dục và huấn luyện dân chúng”.

Sự khác biệt trong cách giả đạo đức giữa những ǵ Tân Hoa đă nói vào năm 1939 và những ǵ Giang Trạch Dân nói vào năm 2000 đă miêu tả linh động sự thật về bộ mặt lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Sau vụ Tàn Sát Thiên An Môn vào năm 1989, ĐCSTQ lại đứng sắp hạng trên khán đài thế giới với một thành tích về vi phạm nhân quyền đau đớn nhất. Lịch sử đă cho ĐCSTQ một cơ hội chọn lựa. Hoặc nó phải tôn trọng người dân của ḿnh, và thực sự cải thiện nhân quyền, hoặc nó cứ tiếp tục chà đạp nhân quyền bên trong nội địa Trung Quốc trong khi giả vờ với thế giới bên ngoài là tôn trọng nhân quyền để trốn tránh sự lên án của quốc tế.

Bất hạnh thay, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ), luôn luôn giữ bản tính lưu manh, đă chọn con đường thứ hai mà không mảy may do dự. Nó đă tập họpduy tŕ một số lớn bọn lưu manh nhưng có tài trong lănh vực khoa học và tôn giáo, và đặc biệt chỉ dẫn cho họ dựng lên những tuyên truyền giả dối tại hải ngoại, để thổi phồng lên các tiến bộ về nhân quyền của ĐCSTQ. Nó bịa đặt một loạt những ngụy biện nhân quyền như “quyền sinh tồn”; hoặc là quyền đồ ăn và chỗ ở. Lư lẽ biện hộ cho những ngụy biện này như sau: Khi người ta đói khát th́ không thể có quyền lên tiếng hay sao? Ngay cả khi những người đói khát không thể lên tiếng được, vậy những người ăn uống no đủ có được phép lên tiếng cho những người đói khát không? ĐCSTQ thậm chí c̣n cố gắng lừa gạt người dân Trung Quốc và các nước dân chủ Tây phương bằng cách chơi các ván bài về nhân quyền, ngay cả rơ ràng tuyên bố rằng “hiện nay là thời kỳ tốt nhất về nhân quyền của Trung Quốc”.

Nghị quyết 35 của Hiến pháp Trung Quốc qui định rằng người dân của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Quốc được tự do phát biểu, xuất bản, nhóm họp, hội đoàn, biểu t́nh, và diễn hành. Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đơn thuần chỉ chơi chữ mà thôi. Dưới sự thống trị của ĐCSTQ, vô số công dân bị tước đoạt quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận, xuất bản và hội họp. ĐCSTQ c̣n ra lệnh rằng việc đệ đơn thỉnh cầu lên cấp trên của các tập thể nhất định cũng bị xem là bất hợp pháp. Hơn một lần vào năm 2004, vài nhóm thường dân đệ đơn xin diễn hành tại Bắc Kinh. Thay v́ chấp nhận cho phép, chính phủ lại bắt giam những người đệ đơn. Chính sách “một quốc gia, hai hệ thống” của Hồng Kông được phê chuẩn bởi hiến pháp của ĐCSTQ cũng là một thủ đoạn. ĐCSTQ tuyên bố rằng sẽ không có thay đổi tại Hồng Kông trong ṿng 50 năm, song nó đă cố đổi hai hệ thống thành một bằng cách cố t́nh thông qua một luật chuyên chế, là nghị quyết 23, chỉ vỏn vẹn trong ṿng 5 năm kể từ khi Hồng Kông được trả về Trung Quốc [7].

Một mánh khóe mới thật nham hiểm được tận dụng bởi Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) giả vờ “nới lỏng tự do ngôn luận” để che lấp sự theo dơi và khống chế chặt chẽ đại quy mô của nó. Người Trung Quốc ngày nay có vẻ nói lên ư nghĩ ḿnh tự do hơn và bên cạnh đó, mạng Internet khiến cho tin tức lan rộng nhanh hơn. Như thế ĐCSTQ tuyên bố rằng bây giờ nó cho phép tự do ngôn luận và có rất nhiều người tin theo điều này. Nhưng đó chỉ là một biểu hiện giả tạo. Không phải ĐCSTQ trở nên tốt lành, mà là Đảng không thể ngăn chặn trào lưu phát triển xă hội và tiến bộ kỹ thuật. Chúng ta hăy xem xét ĐCSTQ đang đóng vai tṛ ǵ trong khía cạnh  mạng Internet: nó phong tỏa các website, gạn lọc tin tức, theo dơi pḥng chat, kiểm soát email, và rồi buộc tội những người sử dụng mạng điện báo. Mỗi một điều Đảng cộng sản làm đều từ bản tính suy đồi. Ngày nay, với sự giúp đỡ của các nhà tư bản không quan tâm đến nhân quyền và lương tri, cảnh sát ĐCSTQ đă được trang bị những máy móc kỹ thuật cao để có thể theo dơi, từ bên trong xe tuần tra, mọi hành động của những người dùng Internet. Khi chúng ta nh́n vào sự suy đồi của ĐCSTQ —phạm vào những hành vi tà ác giữa thanh thiên bạch nhật— trong bối cảnh của phong trào toàn cầu hướng về tự do dân chủ, làm thế nào mà chúng ta có thể mong rằng nó có tiến bộ trong nhân quyền? Chính ĐCSTQ đă nói tất cả: “Nó nới lỏng bên ngoài nhưng thắt chặt bên trong”. Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản không bao giờ thay đổi.

Để tạo nên một h́nh ảnh tốt đẹp cho chính ḿnh tại Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, năm 2004 ĐCSTQ đă dàn cảnh một loạt các hoạt động trừng phạt nghiêm khắc những người vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, sự kiện này chỉ là dành riêng cho mắt quan sát của những người ngoại quốc mà thôi, và không có thực chất. Bởi v́ kẻ chà đạp nhân quyền lớn nhất tại Trung Quốc là chính Đảng cộng sản Trung Quốc, cựu Tổng bí thư Giang Trạch Dân, cựu bí thư Ủy ban pháp lư và chính trị Lỗ Cán, bộ trưởng Chu Vĩnh Khang và phó bộ trưởng Lưu Kinh của Bộ Công An. Sự tŕnh diễn của chúng về trừng phạt những người vi phạm nhân quyền cũng giống như một kẻ ăn cắp đang ḥ hét: “ Bớ người ta, bắt thằng ăn cắp!”.

Tương tự như  hành động của một tên hiếp dâm hàng loạt, khi c̣n có thể trốn khỏi tầm quan sát của công chúng, hắn thường là tấn công 10 cô gái trong một ngày. Sau đó, có quá đông người chung quanh nên hắn chỉ tấn công một cô gái trước đám đông. Có thể nói rằng tên hiếp dâm đă thay đổi tốt hơn hay sao? Từ việc hắn tấn công sau lưng cho đến việc cưỡng hiếp trước công chúng chỉ chứng tỏ rằng tên vô lại này thật là c̣n đê tiện và trơ tráo hơn trước. Bản tính của tên hiếp dâm không thay đổi chút nào cả. Những ǵ thay đổi chỉ là hoàn cảnh đă không c̣n dễ dàng cho hắn phạm tội nữa.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) cũng chỉ giống như tên lưu manh hiếp dâm hàng loạt đó. Bản tánh độc tài của ĐCSTQ và nỗi sợ hăi bẩm sinh về mất quyền lực đă quyết định rằng nó sẽ không tôn trọng quyền lợi của người dân. Nhân lực, nguồn vật chất, và các nguồn tài chính dùng để che dấu thành tích vi phạm nhân quyền