|
|
|
Cuộc vận
động chủ nghĩa cộng sản mà ồn ào
hơn một thế kỷ chỉ mang lại cho nhân
loại chiến tranh, nghèo khổ, đẫm máu và chuyên
chế. Với sự sụp đổ của Liên Bang Sô
Viết và các Đảng Cộng Sản Đông Âu, vở
kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng đă
bước sang màn chót vào cuối thế kỷ vừa qua.
Không một ai, từ thường dân đến Tổng bí
thư Đảng, c̣n tin vào những lời ma quỷ
của chủ nghĩa Cộng Sản nữa.
Chính quyền
của Đảng cộng sản ra đời không
phải “theo ư trời” (quân quyền thần thụ) [1]
cũng không phải từ bầu cử dân chủ. Ngày nay,
khi niềm tin tưởng triệt để vào sự sinh
tồn của nó đă bị hủy diệt th́ tính hợp
pháp của sự chấp chính này đang đối
diện với một thử thách chưa từng có trong
lịch sử.
Đảng
cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă không muốn
tuân theo trào lưu lịch sử mà tự động thoái
xuất khỏi vơ đài lịch sử. Thay vào đó, nó
sử dụng các loại thủ đoạn lưu manh
đă được h́nh thành trong nhiều thập niên qua các
cuộc vận động chính trị để bắt
đầu lại một ṿng
t́m kiếm tính hợp pháp, và để hồi sinh
sự tranh đấu điên loạn của nó.
Các chính sách
cải cách và cởi mở của Đảng cộng
sản Trung Quốc che đậy một ư định
tuyệt vọng là duy tŕ lợi ích tập đoàn và chính
quyền độc tài của nó.
Dù rằng bị trói buộc chặt chẽ, các thành quả kinh tế vẫn cứ đạt được bởi nỗ
lực của nhân dân Trung
Quốc trong 20 năm qua, tuy vậy vẫn không thuyết phục được
ĐCSTQ buông con dao đồ tể của nó xuống. Thay
vào đó, ĐCSTQ đă ăn cắp các thành quả này và sử dụng chúng để
chứng thực việc nắm chính quyền của nó là hợp pháp, làm cho các hành
động lưu manh từ trước đến nay
của nó c̣n giả dối và lầm lạc hơn.
Điều đáng sợ hơn là ĐCSTQ đang toàn lực hủy diệt nền tảng đạo
đức của toàn thể dân tộc, cố gắng biến
đổi mỗi một
công dân Trung Quốc, trở thành các kẻ lưu manh ở
mức độ khác nhau
để tạo nên một hoàn cảnh sinh
tồn mà
“thăng tiến
với thời gian” cho ĐCSTQ.
Vào thời điểm lịch sử hôm nay, đặc biệt quan
trọng cho chúng ta
hiểu
được tường
tận tại sao Đảng cộng
sản lại hành
động giống như những tên lưu
manh, và cho chúng ta
nhận diện cái bản
tính lưu
manh của nó, có như
vậy đất nước Trung Quốc mới có
thể đạt được ổn định và ḥa
b́nh lâu dài, bước vào một thời
đại không
có Đảng
cộng sản càng
sớm càng tốt, và xây dựng một
tương lai huy hoàng của một đất
nước đă được hồi phục.
Trong lịch sử , cứ mỗi lần Đảng cộng sản
Trung Quốc (ĐCSTQ) gặp phải nguy cơ nó sẽ biểu lộ một số
dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc người dân mà h́nh thành những ảo tưởng về ĐCSTQ.
Nhưng không một ngoại lệ, các ảo tưởng đă tan vỡ từng lần, từng lần
một. Ngày nay ĐCSTQ
đang theo đuổi các lợi ích ngắn hạn
nhằm tŕnh diễn một màn thịnh vượng
kinh tế để
một lần nữa thuyết phục người dân tin vào các ảo tưởng của Đảng Cộng
Sản. Tuy nhiên, những
xung đột căn bản giữa lợi ích của bản thân Đảng cộng
sản,
với lợi ích của quốc
gia dân
tộc đă quyết
định rằng sự thịnh vượng giả tạo này sẽ không kéo dài lâu nữa. “Sự
cải cách” mà ĐCSTQ đă hứa hẹn chỉ có
một mục đích: duy tŕ sự thống trị của
Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đó là một cải cách yếu kém khập khiễng, một
thay đổi trên bề mặt chứ không phải
bản chất. Nằm bên dưới của sự phát
triển khập khiễng là đang tiềm ẩn một nguy
cơ to lớn của xă
hội. Một khi nguy cơ bùng nổ, quốc gia và dân tộc một lần nữa
sẽ gặp khổ
nạn.
Với sự thay đổi lănh tụ, thế hệ lănh đạo mới
của ĐCSTQ không có phần trong cuộc cách mạng cộng sản
thời xưa, bởi thế sẽ có ít uy tín và
ít tín nhiệm
hơn trong việc
điều hành quốc gia. Giữa cơn nguy
cơ về tính
cách hợp pháp của nó, việc bảo vệ lợi
ích Đảng
của ĐCSTQ đă trở
thành một bảo đảm căn bản càng ngày càng tăng nhằm duy tŕ quyền
lợi của những cá nhân trong nội bộ
của ĐCSTQ. Ích
kỷ mà không kiềm chế
được là bản tính của Đảng
cộng sản . Hy
vọng vào
một Đảng như vậy mà có thể hiến dâng chính nó để phát triển quốc
gia một cách ḥa b́nh
th́ chỉ là một
mơ tưởng hăo huyền.
Chúng ta hăy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của
ĐCSTQ, đă nói ǵ trên trang đầu vào ngày 12/7/2004:
“Những phương pháp biện chứng trong lịch sử đă dạy cho những
người của ĐCSTQ
điều sau đây: Điều nên đổi th́
tất phải
thay đổi, nếu không, suy
đồi sẽ theo
sau. Điều ǵ không nên đổi th́
quyết không
thể thay đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến tự huỷ diệt.”
Cái ǵ cần phải giữ không đổi? Tờ Nhân Dân nhật báo giải thích như thế
này: “Đường
lối cơ bản của Đảng là 'một trung tâm, và hai điểm cơ bản' phải kéo dài vững chắc trong trăm
năm không một dao động”[2]. Người ta không nhất thiết phải hiểu cái
gọi là “trung tâm” và “điểm cơ bản” thực ra là cái ǵ, song mọi người đều
biết rằng cái quyết tâm của tà linh cộng sản là duy tŕ
lợi ích
tập thể, và sự chuyên chế độc tài sẽ không bao
giờ thay đổi. Chủ nghĩa cộng sản
đă bị thất bại trên toàn cầu, đang bị
sụp đổ đến độ càng ngày càng suy tàn.
Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối th́ một thứ
ǵ càng thối nát lại càng có tính tàn phá. Bàn luận về cải biến dân chủ với Đảng
Cộng Sản chẳng khác ǵ yêu cầu cọp dữ thay bộ da của nó.
Trong khi Đảng Cộng Sản đang suy bại, người
ta bất ngờ khám
phá ra rằng,
qua nhiều thập niên, tà
linh phụ thể của Đảng cộng
sản với những
thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn hóa đă
tiêm nhiễm những yếu tố tà ác của nó vào trong mọi khía
cạnh đời sống của người dân.
Khi Mao Trạch Đông chết, nhiều người
đă khóc cay đắng trước tấm h́nh của Mao,
tự hỏi “Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc
sẽ làm thế nào?” Mỉa mai thay, 20 năm sau, khi
Đảng Cộng Sản đă mất tính hợp pháp
để nắm chính quyền quốc gia của nó, Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đă cho lan rộng một đợt
tuyên truyền mới làm người dân một lần nữa lại tự
hỏi một cách lo âu: “Nước Trung Hoa sẽ làm được ǵ nếu không có
Đảng Cộng Sản?”
Trên thực tế, sự khống chế chính trị
lan tràn khắp nơi của ĐCSTQ đă khắc sâu vào
nền văn hóa hiện tại và tư tưởng
người Trung Quốc đến nỗi ngay cả
chuẩn mực mà người Trung Quốc đánh giá
ĐCSTQ đều có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc
xuất phát từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ
khống chế dân chúng bằng cách tiêm nhiễm những yếu tố của nó vào
họ, th́ giờ đây ĐCSTQ đă đến lúc
phải gặt hái những ǵ nó gieo mầm, bởi v́
những điều thấm nhuần trong tâm trí
người dân đă được tiêu hóa và hấp
thụ vào từng tế bào của họ. Người dân
suy nghĩ dựa theo lư luận của ĐCSTQ, và tự đặt ḿnh vào vị trí
của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các
sinh viên biểu t́nh ngày 4/6/1989, có người bảo
“Nếu tôi là Đặng Tiểu B́nh tôi cũng sẽ
dập tắt cuộc nổi loạn bằng xe tăng”.
Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo
rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng
sẽ tiêu diệt Pháp Luân
Công.” Về việc cấm tự do ngôn luận, có người
bảo rằng “Nếu tôi là Đảng
cộng sản tôi cũng làm
như vậy.” Chân lư và lương tri không
c̣n nữa, chỉ c̣n
lại lô-gic của Đảng cộng
sản. Đây là một
trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm
nhất của ĐCSTQ mà đă được ĐCSTQ sử dụng v́ bản tính lưu manh của nó. Khi nào những
độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đă tiêm nhiễm
vào vẫn c̣n trong đầu óc người ta, th́ ĐCSTQ càng có cơ hội tiếp
tục thâu đoạt năng lượng để duy tŕ
sinh mạng
lưu manh của nó.
“Nước Trung Quốc sẽ làm được ǵ
nếu không có Đảng Cộng
Sản?” Lối suy nghĩ
này phù hợp chính xác với mục đích của ĐCSTQ
là làm cho người dân suy luận theo lô-gic của nó.
Dân tộc Trung Hoa đă trải qua 5000 năm lịch sử văn minh
của họ mà không có Đảng cộng sản. Thực tế, không một quốc
gia nào trên thế
giới lại ngừng tiến triển xă hội chỉ
v́ sự sụp đổ của một chế độ
nào đó. Tuy nhiên sau hàng chục thập niên dưới
sự thống trị của ĐCSTQ, người ta đă không c̣n nhận ra được
sự thực này. Sự
tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ đă rèn luyện người dân nghĩ
Đảng như là mẹ đẻ của họ. Chính trị của ĐCSTQ có mặt ở
khắp nơi đă khuất phục người ta, làm cho họ không thể nhận thức
được cuộc sống không có Đảng
cộng sản sẽ ra sao.
Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc đă không đổ vỡ;
vậy không có Đảng
cộng sản th́
nước Trung Hoa sụp đổ hay sao? !
Rất nhiều người biết và không thích
những hành vi lưu manh của Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ đấu tranh và dối
trá của nó. Nhưng đồng thời họ lại
sợ hăi những cuộc vận động chính trị
của ĐCSTQ và những bạo
động gây rối
loạn, rồi sợ rằng sự rối loạn một lần
nữa sẽ viếng thăm Trung Quốc. Bởi thế,
mỗi khi ĐCSTQ hăm dọa người dân với
chữ “rối loạn”; người dân liền
im lặng chấp nhận sự thống trị của ĐCSTQ, cảm thấy bất
lực khi đối
diện với quyền lực chuyên chế của ĐCSTQ.
Trên thực tế, với hàng triệu quân đội và
cảnh sát vơ trang, ĐCSTQ là nguồn rối loạn
thật sự. Những người dân thường không
tài nào gây nên hoặc có khả năng khởi xướng
rối loạn cho quốc gia. Chỉ có ĐCSTQ thoái hóa mới
nhẫn tâm mang đất
nước đến rối loạn qua bất
cứ dấu hiệu thay đổi nào. “Ổn
định quan trọng hơn tất cả mọi
thứ” và “Nhổ tận gốc mầm mống của
tất cả các yếu tố nguyên nhân làm bất ổn định” — các khẩu hiệu
này đă trở thành nền móng lư luận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp người dân. Vậy ai là nguyên nhân lớn nhất
tạo ra sự bất ổn định tại Trung Quốc? Chẳng phải là ĐCSTQ, một chính quyền chuyên dùng bạo
lực? ĐCSTQ là chủ mưu của rối loạn, và
sau đó đến lượt nó lại dùng chính sự
rối loạn nó tạo ra ấy để ép buộc
người dân. Những bọn lưu
manh xưa nay đều làm như thế cả .
Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) tự nhận “tính hợp pháp” của nó do
từ sự phát triển
kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên trên thực tế
sự phát triển này đă dần dần đạt
được nhờ nhân dân Trung Quốc
lao động, sau khi những
gông cùm của ĐCSTQ được nới lỏng
một chút, do đó sự phát triển kinh tế không liên
quan ǵ đến công lao của chính ĐCSTQ. Dầu
vậy, ĐCSTQ đă tuyên bố là sự phát triển kinh
tế này là do thành tựu của chính nó, và yêu cầu người dân phải
biết ơn Đảng, như thể là sẽ không có
một phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trong thực
tế tất cả chúng ta đều biết rằng có
nhiều quốc gia phi cộng sản, từ lâu đă đạt
được việc
tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn nữa.
Những thể
tháo gia đạt được huy chương vàng tại
thế vận hội Olympic đă bị đ̣i hỏi phải cám ơn Đảng
Cộng Sản. Đảng
không ngần ngại sử dụng h́nh ảnh bày
đặt “thể thao đại quốc ” để tự ca tụng
ḿnh. Trung Quốc đă
trải qua nhiều khổ nạn trong bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhân
Dân nhật báo lại nói rằng Trung Quốc đă chiến
thắng vi khuẩn “dựa theo lư luận cơ bản, đường lối
cơ bản, cương lĩnh cơ bản và kinh nghiệm cơ bản
của Đảng”. Việc phóng vệ tinh Thần Châu 5
của Trung Quốc đă được thực hiện
bởi các chuyên gia khoa học và kỹ thuật
không gian, nhưng ĐCSTQ
đă lấy đó làm bằng chứng để chứng
minh rằng chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng
hướng dẫn người dân Trung Quốc bước
vào hàng các cường quốc trên thế giới. Sự kiện Trung Quốc làm chủ tổ
chức Thế Vận Hội
Olympic năm 2008, là thực ra các nước Tây phương ban cho Trung
Quốc cái “cành Ô-liu” (biểu trưng của đề
nghị ḥa b́nh) để khuyến khích Trung Quốc
cải thiện t́nh h́nh nhân quyền, nhưng
ĐCSTQ dùng
điều này để nâng cao những tuyên bố về
tính hợp pháp của nó, và để dùng như một cái cớ
để trấn áp người dân Trung Quốc. “Tiềm lực thị trường lớn mạnh”
của Trung Quốc có được nhờ vào các nhà
đầu tư ngoại quốc, bắt nguồn từ
năng lực tiêu thụ của 1.3 tỷ người dân của Trung Quốc. ĐCSTQ đă
chiếm đoạt tiềm lực này, và rồi biến nó thành vơ khí sắc
bén dùng để làm áp lực các xă hội phương Tây phải hợp
tác với sự thống trị của ĐCSTQ.
Đảng
cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ)
qui tội tất cả những sự
việc xấu vào các
lực lượng phản động và các người có dụng tâm xấu làm, trong khi đó nhận những sự
việc tốt về cho ban
lănh đạo của Đảng. ĐCSTQ sử dụng
mỗi một thành quả để khiến cho
việc tuyên bố về
tính hợp pháp trong sự thống trị của nó có sức
thuyết phục hơn. Ngay cả những việc làm sai
mà ĐCSTQ phạm phải có thể được biến thành cái ǵ đó
“tốt” để phục vụ các mục đích của
nó. Ví dụ khi sự thật về vấn
đề lan tràn
khủng khiếp của bệnh AIDS không c̣n che dấu
được nữa, ĐCSTQ đột
nhiên chế tạo ra một
bộ mặt mới. Chúng
khéo léo vận chuyển bộ máy tuyên truyền, sử
dụng tất cả mọi người từ minh tinh
nổi tiếng đến Tổng bí thư Đảng để tô
vẽ chân dung ĐCSTQ, kẻ thủ phạm đầu sỏ,
thành người tiêu diệt bệnh AIDS, người thách
đấu với bệnh tật của nhân
loại, và như là một điều may mắn cho
bệnh nhân. Trong việc giải
quyết những
vấn đề liên quan tới sống chết nghiêm
trọng như vậy, tất cả những ǵ ĐCSTQ có
thể nghĩ đến là làm thế nào mà sử dụng vấn đề đó
để tự ca ngợi ḿnh. Chỉ có ĐCSTQ mới có
khả năng hành động nhẫn tâm, lưu manh
chiếm đoạt và hoàn toàn không kể ǵ đến
mạng sống con người.
Đối diện nghiêm trọng với “nguy cơ về tính hợp pháp”, ĐCSTQ đă
thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa vào thập
niên 80 để duy tŕ
sự thống trị của nó. Háo hức thành công nhanh chóng đă
đặt Trung Quốc vào một thế bất lợi mà
những nhà kinh tế học gọi là “tai họa cho
kẻ đến muộn”.
Những khái niệm “tai họa cho kẻ đến
muộn” hoặc là “lợi thế cho kẻ đến muộn”, mà
một số các học
giả đă gọi, là
chỉ về sự
kiện của các quốc
gia lạc hậu, có nghĩa là
sự phát triển được khởi công muộn, có
thể bắt chước các nước tiến
bộ trước,
trong nhiều mặt. Có hai h́nh thức bắt chước:
bắt chước hệ thống xă hội và bắt
chước các mô h́nh kỹ thuật và công nghiệp. Thông
thường bắt
chước hệ thống xă hội là khó, v́ cải
tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến
quyền lợi tương lai của một số tập
đoàn chính trị hay xă
hội. V́ vậy các quốc gia lạc hậu có khuynh hướng bắt chước
kỹ thuật của các nước tiên tiến. Mặc
dầu bắt chước kỹ thuật có thể
tạo nên phát triển kinh tế nhất thời, nhưng
nó có thể dẫn đến nhiều
may rủi tiềm
ẩn hoặc ngay cả thất bại đối với mục
tiêu phát triển dài hạn.
Đảng cộng sản Trung
Quốc(ĐCSTQ) chính là đang
đi theo con đường “tai họa cho kẻ đến muộn”, một con
đường thất bại. Qua hai thập niên vừa
rồi, “bắt
chước kỹ thuật” của Trung Quốc đă
thật sự dẫn đến một số thành tích, mà ĐCSTQ đă chiếm về phần ḿnh, hầu để chứng minh “tính hợp pháp” của
nó, và tiếp
tục ngăn cản cải cách chính trị mà có lẽ
sẽ làm hại tới lợi ích riêng của ĐCSTQ. V́
vậy, lợi ích lâu dài của quốc gia đă bị hy
sinh.
Trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) không ngừng khoe khoang về tiến
bộ kinh tế của ḿnh, th́ trên thực tế, kinh tế Trung Quốc
ngày nay sắp hạng trên thế giới c̣n thấp hơn thời
của vua
Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong
thời vua
Càn Long, GDP (Gross Domestic Products hay Tổng
sản lượng quốc nội) của Trung Quốc được coi
như bằng 51% của tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập
nước Cộng ḥa Trung Quốc (thời Quốc Dân
Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc
bằng được khoảng 27% của tổng số
thế giới. Vào 1923, tỷ lệ phần trăm
giảm xuống, nhưng vẫn c̣n được 12%.
Đến 1949, khi ĐCSTQ nắm chính quyền, tỷ
lệ xuống đến 5.7%, nhưng đến 2003, GDP
của Trung Quốc giảm xuống ít hơn 4% tổng
số của thế giới. Tương phản với sự
tụt dốc kinh tế trong thời kỳ Quốc Dân
Đảng v́ phải trải qua nhiều chục
năm chiến tranh, th́ sự tụt dốc kinh tế liên
tục trong thời kỳ ĐCSTQ nắm quyền lại
xảy ra trong thời ḥa b́nh.
Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của
ḿnh, ĐCSTQ hăm hở muốn đạt thành công nhanh
chóng và những lợi ích tức thời. Sự cải
cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ đă phát
động hầu để bảo vệ lợi ích riêng
tư cho chính nó, là một tổn thất lớn cho quốc
gia. Sự
phát triển kinh tế nhanh
chóng trong 20 năm qua, tới một phạm vi rộng,
được xây dựng trên sự lạm dụng
hoặc ngay cả lăng phí các nguồn tài nguyên, và đă
đạt được với cái giá của sự tàn
phá môi trường. Một phần lớn GDP của Trung Quốc đạt
được bằng cách hy sinh những cơ hội
của các thế hệ tương lai. Vào 2003, Trung
Quốc đă đóng góp dưới 4% cho kinh tế thế
giới, trong khi đó mức tiêu thụ về sắt, xi măng và những vật dụng khác lên
đến 1/3 tổng
số tiêu thụ toàn cầu [3].
Từ thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, những vùng đất bị bỏ hoang ở Trung Quốc tăng từ 1.000 đến 2.